ĐẠI BI CỦA BỒ TÁT - Nguyễn Thế Đăng

ĐẠI BI CỦA BỒ TÁT
Nguyễn Thế Đăng

-------o0o-------

 Đại bi là động lực ban đầu và là sự thành tựu cuối cùng của con đường Bồ tát.Trong bài này lấy từ Pháp hội Bồ tát tạng thứ 12, kinh Đại Bảo Tích. Pháp hội Bồ tát tạng này do Pháp sư Huyền Trang (602-664) dịch tiếng Hán, Đại chánh tân tu, T11 n 0310. Pháp hội này có trong Đại tạng Tây Tạng, được các nhà nghiên cứu xem thuộc loại kinh xuất hiện sớm nhất của hệ thống Đại...
ĐẠI BI CỦA BỒ TÁT - Nguyễn Thế Đăng

 

Đại bi là động lực ban đầu và là sự thành tựu cuối cùng của con đường Bồ tát.

Trong bài này lấy từ Pháp hội Bồ tát tạng thứ 12, kinh Đại Bảo Tích. Pháp hội Bồ tát tạng này do Pháp sư Huyền Trang (602-664) dịch tiếng Hán, Đại chánh tân tu, T11 n 0310. Pháp hội này có trong Đại tạng Tây Tạng, được các nhà nghiên cứu xem thuộc loại kinh xuất hiện sớm nhất của hệ thống Đại thừa.

1/ Đức Phật xuất gia vì lòng bi thấy chúng sanh khổ.

Trong Phẩm thứ nhất, Khai hóa Trưởng giả, đức Phật đã giảng cho người nghe lý do ngài xuất gia là vì lòng bi cho chúng sanh.

Thấy chúng sanh sống theo những quan niệm, những thấy biết sai lầm, độc hại (ác kiến) nên lạc trong rừng rậm sanh tử, không thể nào ra nên đức Phật quyết tâm xuất gia:

“Ta vì được Giác ngộ Vô thượng để dứt hẳn những ác kiến ấy nên với lòng tin thanh tịnh rời bỏ cung điện họ Thích hướng đến đạo vô thượng:

Tất cả kẻ phàm phu

Vào rừng rậm ác kiến

Ngã kiến, hữu tình kiến

Cùng với thọ mạng kiến

Đoạn kiến với thường kiến

Chấp vô tác kiến thảy

Vì an lập chánh kiến

Nên ta đi xuất gia”.

Với người thường, hầu như quan niệm, ý tưởng nào khởi lên đều lọt vào “rừng rậm ác kiến” này nên đức Phật xuất gia để “an lập chánh kiến” cho thế gian.

Vì cứu người bị nạn sanh tử, do đủ loại tên độc bắn trúng, đức Phật xuất gia:

Quá vô số đại kiếp

Chúng sanh bị tên ái

Tên vô minh làm mù

Từ tối vào trong tối.

Tên dục thường bắn trúng

Nhiễm trước là tên tham

Tên lỗi lầm mê muội

Mang mũi tên ngu si

Cống cao khởi tên mạn

Trái cãi sanh tên kiến

Do tên có, không có

Sa vào có và không.

Các phàm phu ngu si

Mũi tên do miệng họ

Cùng nhau sanh tranh luận

Đây thật, đây chẳng thật.

Vì nhổ những tên độc

Như Lai hiện ở đời

Cứu người trúng tên độc

Xuất gia thành đạo thánh.

Đức Phật vì muốn làm mắt sáng dẫn đường cho chúng sanh mù lòa.

...Đời bị ba thứ lửa

Ta thấy không ai cứu

Rưới mưa pháp cam lộ

Tắt hết lửa ba độc.

Thấy những người lạc đường

Sanh đã mù tăm tối

Vì người làm mắt sáng

Dẫn đường nên xuất gia.

Chúng sanh khởi lòng nghi

Bị các uẩn che đậy

Vì trừ khổ não ấy

Nên xuất gia thuyết pháp.

Người ngu chống trái nhau

Rình rập hại lẫn nhau

Vì hòa giải oán ghét

Giúp đời nên xuất gia.

Với cha mẹ, sư trưởng

Chống đối, khinh, chẳng kính

Để dẹp cờ kiêu mạn

Nên ta đi xuất gia.

Thấy tham lam hại đời

Do tiền của hại nhau

Để được bảy Thánh tài

Dứt trừ hết lòng tham.

Hoặc đến nổi hại nhau

Lợi mình, chẳng lợi ích

Thấy vậy ta xả thân

Cầu rời ngục ba cõi.

Xưa chưa biết ba cõi

Sự lợi ích chân thật

Vì mở lợi lạc thật

Nên ta đi xuất gia.

Thấy người đến địa ngục

Nghiệp nhân xấu quá nhiều

Chịu vô biên khổ não

Vì cứu mà xuất gia.

Thấy các loài muông thú

Thường giết hại lẫn nhau

Muốn làm chỗ chúng nương

Thương chúng mà xuất gia.

Thấy các loài quỷ đói

Rất khổ vì đói khát

Vì chứng đại Bồ đề

Thí cam lồ bất tử.

Loài người khổ vì cầu

Chư thiên khổ vì chết

Thấy khổ khắp ba cõi

Vì cứu mà xuất gia...

Đức Phật thấy sự mê mờ gây ra những lỗi lầm, những tội lỗi của con người khiến họ chịu khổ một cách vô ích, và điều đó khiến ngài xuất gia để giải thoát, giác ngộ, cứu chúng sanh đang bị giam nhốt trong nhà ngục ba cõi.

Đức Phật không chỉ nói đến những lỗi lầm, tội lỗi của con người chung chung mà như thể ngài nói đến mỗi người (những đoạn kinh này nói đến nhiều thứ, ở đây chỉ trích ra một số ít). Bởi vì suy ra và nhìn lại, mỗi người đều thấy có mình trong đó. Có một người nào ở đời này dám nói là mình không từng có lỗi lầm, thậm chí tội lỗi?

Đọc cho kỹ, chúng ta thấy đại bi của đức Phật không chỉ trùm lên nhân loại chung chung mà chính xác là đại bi cho mỗi một người chúng ta. Thế nên khi ngài phát tâm đạt đến giác ngộ vô thượng thì không chỉ vì nhân loại chung chung mà chính là vì mỗi con người chúng ta. Chính vì thế mà ngày nay không nơi nào không có ai không biết đến đức Phật và đạo Phật. Bởi thế trong kinh này, mỗi khi nói đến đại bi của đức Phật, đều nói “đại bi chẳng thể nghĩ bàn”, “đại bi vô lượng ba la mật”.

Chính vì những lỗi lầm, những tội lỗi mà chúng ta đã tạo ra với chính mình, với gia đình, với xã hội, với thế giới mà Bồ tát Thích Ca đã bỏ cung điện họ Thích để tìm cầu “cam lồ bất tử thí cho chúng sanh”.

Đại bi đó không chỉ cho con người, cho từng người mà còn cho cả chư thiên, loài vật và các loài ở ba đường thấp súc sanh, quỷ đói và địa ngục.

Với nhân là một tâm đại bi vô lượng như vậy thì quả phải là giác ngộ vô thượng.

2/ Đại bi thiết lập tất cả Phật pháp

Trong phẩm Bốn Vô Lượng thứ 5, kinh nói nhiều về đại bi.

“Vì muốn chứng đắc Giác ngộ Vô thượng nên đại Bồ tát lấy đại bi làm dẫn đầu. Như hơi thở là đầu hết của mạng người, cũng vậy đại Bồ tát chứng đắc đại thừa cũng dùng đại bi làm dẫn đầu.

Như vua Chuyển Luân có đủ bảy báu, phải lấy kim luân làm tiền đạo. Cũng vậy, để có tất cả chánh pháp của chư Phật, đại Bồ tát phải dùng đại bi làm dẫn đầu.

Đại Bồ tát vì Giác ngộ Vô thượng, độ các chúng sanh, thực hành đại bi, rốt ráo chẳng bỏ tất cả chúng sanh”.

Giác ngộ vô thượng, ngoài trí huệ, phải lấy đại bi làm dẫn đầu, rốt ráo chẳng bỏ tất cả chúng sanh.

“Lúc thực hành đại bi, đại Bồ tát thấy tất cả chúng sanh bị thân kiến hư giả trói buộc, bị các ác kiến giam nhốt. Thấy như vậy rồi đại Bồ tát đối với các chúng sanh phát khởi đại bi: Tôi sẽ thuyết pháp vi diệu khiến họ dứt hẳn thân kiến hư giả và các ác kiến trói buộc.

Lúc thực hành đại bi, đại Bồ tát thấy các chúng sanh an trụ nơi chẳng thật, sai lầm điên đảo: ở trong vô thường hư vọng cho là thường, ở trong các khổ hư vọng cho là an vui, ở trong vô ngã hư vọng cho là có ngã, ở trong bất tịnh hư vọng cho là thanh tịnh. Thấy như vậy rồi đối với các chúng sanh đại Bồ tát phát khởi đại bi: Tôi sẽ thuyết vi diệu pháp khiến họ dứt hẳn hư vọng điên đảo chẳng thật”.

Thấy các chúng sanh bị giam cầm trong những hư vọng điên đảo từ đó sanh ra khổ đau của sanh tử, Bồ tát thuyết pháp cho họ để họ giải thoát khỏi sai lầm, mê muội. Thuyết pháp là hoạt động đại bi vì chúng sanh của Bồ tát.

Thấy sự sai lầm của chúng sanh bị các hư giả trói buộc, bị các ác kiến giam nhốt, ở trong vô thường hư vọng mà cho là thường, trong vô ngã hư vọng mà cho là ngã, trong bất tịnh hư vọng mà cho là thanh tịnh... Bồ tát phát khởi đại bi thuyết pháp cho chúng sanh để họ nhận ra sự thật, không chạy theo những hư vọng mà khổ đau vô ích.

Thấy sự sai lầm, chạy theo những điều hư vọng để khổ đau của chúng sanh, đây là trí huệ. Thuyết pháp khiến họ dứt hẳn những hư vọng điên đảo của họ để tự gây khổ cho mình đây là đại bi.

Con đường Bồ tát được thiết lập trên hai chất liệu căn bản: trí huệ để thấy, đại bi để làm việc.

Đại bi càng rộng sâu thì tâm càng rộng sâu (vì đại bi là một trong Bốn tâm vô lượng), do đó trí huệ càng rộng sâu. Hơn nữa, đại bi không chỉ là giải thoát, mà còn là trách nhiệm với các chúng sanh.

Tiếp tục Kinh nói đến những lỗi lầm, tội lỗi của chúng sanh: “ngu si điên đảo nơi ái dục (thậm chí vô luân), bị năm uẩn che đậy, bị sự làm hại của kiêu mạn, bị dây tình ái trói chặt, xa rời bạn tốt mà theo bạn xấu, bị vô minh ngu si che khuất, yêu thích sanh tử (hư vọng) mãi miết luân hồi (hư vọng)...”

Tất cả những cái ấy là bệnh tật của chúng sanh, khiến họ cứ trầm luân nơi sanh tử hư vọng.

Cứ cuối mỗi đoạn đều có câu:

“Thấy như vậy rồi, đại Bồ tát phát khởi đại bi đối với các chúng sanh: Tôi sẽ thuyết pháp cho họ khiến họ thoát khỏi...”

Vì muốn cứu thoát chúng sanh với mười thứ sai lầm, tội lỗi như vậy, đại bi của Bồ tát trở thành vô lượng:

“Lúc thực hành đại bi, đại Bồ tát quan sát tánh chúng sanh, phát khởi mười thứ đại bi vô lượng như vậy”.

Sống và làm việc với đại bi, Bồ tát đào luyện những đức tính của một con người cao cả:

“Đại Bồ tát lại có mười chuyển hóa do đại bi:

Đại bi như vậy do nơi chẳng dua nịnh mà được sanh khởi, thí như hư không, vì vĩnh viễn ra khỏi vậy.

Đại bi như vậy do nơi chẳng dối gạt mà được sanh khởi, vì từ chí nguyện cao cả mà được ra khỏi vậy.

Đại bi như vậy do nơi chẳng giả dối đánh lừa mà được sanh khởi vì từ đạo như thật, tâm chất trực mà ra khỏi vậy.

Đại bi như vậy do chẳng cong vạy mà được sanh khởi, vì rất khéo an trụ nơi tâm chẳng cong vạy mà ra khỏi vậy.

Đại bi như vậy do không kiêu căng, tự cao, khiếp nhược mà được sanh khởi, vì với tất cả chúng sanh kiêu mạn và tháo chạy đã khéo ra khỏi vậy.

Đại bi như vậy do bảo hộ hữu tình mà được sanh khởi, vì từ tự tâm thanh tịnh mà ra khỏi vậy.

Đại bi như vậy do huệ kiên cố mà được sanh khởi vì vĩnh viễn lìa tất cả tâm động và bất động, an trụ tâm mình mà khéo ra khỏi vậy.

Đại bi như vậy do bỏ cái vui của mình mà được sanh khởi, vì trao cái vui cho người khác nên khéo ra khỏi vậy.

Đại bi như vậy do muốn nâng đỡ các chúng sanh mà được sanh khởi, vì tinh tấn kiên cố nên khéo ra khỏi vậy”.

Chữ “ra khỏi” (xuất ly) ở đây cần được hiểu là ra khỏi những phiền não trong tâm của Bồ tát, chứ không phải ra khỏi sanh tử, vì với một Bồ tát, sanh tử chỉ là hư vọng.

Đại bi “vô lượng, thí như hư không”. Vô lượng, thí như hư không, để diễn tả tánh Không. Đại bi đã là một với tánh Không vậy.

Đại bi giúp hành giả Bồ tát tịnh hóa hai nghiệp chướng căn bản là ‘cái tôi và cái của tôi’, đồng thời phát huy những đức tính căn bản của Bồ tát, để phục vụ chúng sanh. Mười câu trên, mỗi câu đều nêu ra một phẩm tính của Bồ tát.

Hơn nữa, cùng với trí huệ tánh Không, đại bi tạo dựng, thiết lập nên tất cả Đại thừa.

“Đại bi vô lượng của đại Bồ tát lại có mười thứ chuyển hóa, nghĩa là tất cả Đại thừa ra khỏi đều nhân nơi đại bi mà được ra khỏi, do như vậy nên gọi là đại bi.

Đại bi như vậy kiến lập tất cả bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, do đây nên gọi là đại bi.

Đại bi như vậy kiến lập Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc. Đại bi như vậy kiến lập Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Tùy niệm, Cộng pháp giác chi, cùng với Bát chánh đạo, nghiệp nhân hoan hỷ, các Định thứ đệ, Mười nghiệp đạo thiện, cho đến các Tướng hảo đều được kiến lập như vậy. Do nguyên nhân này cho nên gọi là đại bi.

Đại bi như vậy kiến lập trí huệ tự nhiên của Như Lai, do đây nên gọi là đại bi.

Hãy biết rằng đại bi như vậy tự làm việc của mình, làm khéo công việc, chẳng làm đổi khác, vì các chúng sanh mà làm việc đáng làm. Đại bi như vậy khiến tất cả chúng sanh đều viên mãn như ý.

Đây gọi là Đại bi vô lượng ba la mật của đại Bồ tát”.

Đại bi như vậy kiến lập tất cả Phật pháp, kiến lập trí huệ tự nhiên của Phật.

Trí huệ tánh Không và đại bi kiến lập, tạo dựng nên một vị Phật.

 

Bài viết liên quan