TÂM TỪ NUÔI DƯỠNG CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI - Nguyễn Thế Đăng

TÂM TỪ NUÔI DƯỠNG CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI

Nguyễn Thế Đăng

-------o0o-------

Từ là gốc thiện, cho nên nó bảo vệ giữ gìn cho người có nó khỏi bị cái ác, cái xấu làm hại. Và nếu từ đủ lớn, đủ rộng, nó còn đem lại những lợi ích thiện lành cho người khác.
TÂM TỪ NUÔI DƯỠNG CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI - Nguyễn Thế Đăng

 

Con người từ lúc sanh ra đến lúc chết, luôn luôn sống và bị giới hạn trong một ý thức phân biệt, chia cắt giữa cái tôi và cái chẳng phải tôi, cái tôi và cái khác, người khác, cái tôi và thế giới...

Người khác, The Other, l’Autre là một chủ đề triết học lớn của Tây phương thế kỷ 20. Thậm chí, Thượng Đế, thực thể tối cao, cũng được xem là Người Khác.

Đạo Phật, một nền tâm linh lớn, lâu đời, giải quyết vấn đề này như thế nào?

Ở đây, chỉ lấy Tâm Từ như một pháp căn bản, quan trọng để khảo sát, học hỏi, thực hành, xem pháp ấy có thể giải quyết, lấp đầy hố sâu nhị nguyên tôi - người, trong và ngoài tôi và thế giới... như thế nào?

1/ Tâm Từ là gì?

Từ, Tiếng Sanskrit là maitri, tiếng Pali là metta, có nghĩa là thương mến, yêu thương (loving-kindness), thiện tâm thiện ý (goodwill), thân ái, tình bằng hữu (loving – friendliness).

Từ là phát khởi những ý tưởng mong muốn sự tốt đẹp, hạnh phúc, an vui cho những người khác và mong muốn họ không phải bị khổ đau.

Nhưng đó không phải là những ý tưởng thiện lành lẻ tẻ, mà dần dần nối kết nhau để tạo thành một trạng thái tâm liên tục, gọi là tâm từ.

Khi tâm đã kết thành một khối tâm từ, nó sẽ có một sức mạnh của tâm từ, mà kinh điển gọi là “từ lực”.

Sau đây sẽ trích ra một số đoạn trong Pháp hội Bồ tát tạng, Kinh Đại Bảo Tích, Pháp sư Huyền Trang dịch, Đại chánh tân tu T11n 0310-041.

“Này Thái tử! Đối với các chúng sanh, đại Bồ tát tinh tấn tu học đại từ vô lượng ba la mật đa như thế nào? Đại Bồ tát thực hành Bồ tát đạo vì Giác ngộ Vô thượng nên tâm từ đầy khắp chúng sanh giới. Lượng của chúng sanh giới là thế nào? Tận cùng hư không giới là lượng của chúng sanh giới.

Này Thái tử! Như hư không giới không đâu chẳng khắp, đại từ vô lượng của Bồ tát cũng vậy, không có chúng sanh, chủng loại hàm thức nào mà chẳng trùm khắp. Như chúng sanh giới không có hạn lượng, tâm từ Bồ tát tu cũng không có hạn lượng. Vì hư không vô biên nên chúng sanh vô biên, vì chúng sanh vô biên nên Từ cũng vô biên.

Thế nên hãy biết tánh chúng sanh vô lượng vô biên chẳng thể nghĩ bàn, thì tâm Từ của Bồ tát đều đầy khắp như vậy. Đại Bồ tát tu thiện căn Từ trùm khắp chúng sanh giới, vô hạn vô lượng”.

Sở dĩ Từ được gọi là một trong bốn tâm vô lượng (Từ, Bi, Hỷ, Xả) vì Từ trùm khắp chúng sanh giới vô hạn vô lượng như hư không giới.

Ở đây Từ được gọi là thiện căn, là một thiện căn căn bản của con đường Bồ tát.

2/ Công dụng của tâm Từ cho mình và cho người

“Nay Như Lai lại nói tướng của đại Từ. Thái tử nên biết! Đại từ vô lượng này hay bảo hộ cho tự thân. Đại từ này như vậy phát khởi lợi ích cho người khác”.

Từ là gốc thiện, cho nên nó bảo vệ giữ gìn cho người có nó khỏi bị cái ác, cái xấu làm hại. Và nếu từ đủ lớn, đủ rộng, nó còn đem lại những lợi ích thiện lành cho người khác.

“Đại từ này là bậc nhất trong các đức không tranh luận. Đại từ hay dứt trừ cây gốc sân hận. Đại từ hay diệt hẳn tất cả lỗi lầm. Đại từ hay xa lìa ràng buộc tham muốn vào cái cõi. Đại từ này chỉ thấy những đức tính tốt của chúng sanh, không thích nhìn những lỗi xấu của họ. Đại từ này hay vượt khỏi phiền não nóng bức làm xâm hại. Đại từ này hay sanh trưởng cái vui nơi thân ngữ tâm”.

Tranh luận là sự tranh chấp hơn thua giữa ta với người, tôi đúng anh sai, tôi cao anh thấp, tôi giỏi anh dở. Giải quyết không được thì sân hận nổi lên, gây ra chiến tranh. Tâm từ là sự thương mến, từ ái, từ hòa làm nhẹ bớt, lấp đầy hố sâu ta –người khác biệt này để đưa đến nhường nhịn, hòa hoãn, hòa bình.

Tâm từ làm giảm bớt tham muốn, giảm bớt sự tranh chấp quyền lợi mà nếu không hóa giải được sẽ gây ra xung đột. Tâm từ khiến ta ưa nhìn thấy cái tốt hơn là dòm ngó những lỗi lầm để buộc tội người khác. Càng nhìn thấy lỗi lầm, cái dở của người khác thì cái tôi càng thêm lớn nên hố sâu chia cách tôi với người, tôi với cuộc đời càng thêm lớn.

Tâm từ khiến vượt khỏi phiền não nóng bức nơi tâm mình, khiến hay sanh trưởng cái vui nơi thân ngữ tâm. Một tâm bị phiền não nóng bức làm xâm hại thì luôn luôn bực bội, gây khó chịu cho mình và cho người khác. Một tâm có từ thì hay sanh cái vui nơi thân ngữ tâm. Với niềm vui đó người ta sống dễ dàng, rộng lượng bao dung và tha thứ. Một tâm ít lòng từ thì luôn phê phán, trách móc người khác, và điều này làm nhiễm độc chính cuộc đời mình.

“Lực từ như vậy chẳng bị tất cả sự não hại của người khác. Tánh từ làm an ổn lìa các sợ hãi. Lực thiện căn của từ tùy thuận với thánh đạo. Từ hay khiến chúng sanh kia nhiều sân si bạo ác bất nhẫn phát sanh niềm tin thanh tịnh. Từ hay cứu vớt các chúng sanh. Do lực từ nên với dao gậy kia không có nắm giữ. Từ hay dẫn dắt tất cả chúng sanh đến giải thoát. Từ này hay diệt các ác sân hận. Từ này xa lìa sự dối hiện oai nghi, nịnh bợ, dối gạt, áp bức, đòi hỏi, mà hay tăng trưởng các sự lợi dưỡng, cung kính, danh dự. Do lực từ nên được Đế Thích, Phạm Thiên cung kính. Dùng từ trang nghiêm thân nên có uy đức”.

Tâm từ cảm hóa người khác, dập tắt sự sân hận của họ lại khiến người khác phát sanh niềm tin thanh tịnh hướng đến giải thoát.

Tâm từ “xa lìa sự dối gạt, áp bức, đòi hỏi”, nghĩa là tạo cho con người sự trung thực.

Tâm từ loại bỏ các xấu nơi mình khiến thân được uy đức trang nghiêm, thậm chí lực từ làm cho chư thiên phải cung kính, hoàn cảnh chung quanh (y báo, lợi dưỡng, danh dự) được thêm tốt đẹp.

Tóm lại, trong đời sống luôn luôn có một phân cách giữa tôi và những người khác, phân cách ấy càng nặng nề thêm bởi các phiền não tham, sân, si, kiêu mạn, đố kỵ, những tương quan xã hội bị nhiễm độc để trở thành những xung đột trắc trở gập ghềnh. Tâm từ là một chất liệu tốt đẹp thay thế cho chất liệu cũ là những phiền não để làm nền móng cho những tương quan tốt đẹp lành mạnh.

Dĩ nhiên mỗi xã hội đều có sự khác biệt tùy theo địa lý, dân tộc, trình độ phát triển, đều có những cấu trúc kinh tế, chính trị, pháp luật phù hợp với xã hội ấy. Nhưng dù những cấu trúc ấy thế nào, tâm từ chính là chất liệu nâng cấp cho những cấu trúc ấy khiến chúng nhân văn hơn, phù hợp với sự tiến hóa đi lên của loài người.

Tâm từ gần với sự bình đẳng. Con người khó có sự bình đẳng về tài sản, quyền lực, học vấn, tài năng, sức khỏe, tuổi thọ..., nhưng nếu biết khai thác tiềm năng tâm từ có sẳn nơi tâm này thì người ta có thể có sự hài hòa từ cá nhân, gia đình đến xã hội.

Tâm từ hàn gắn, lấp đầy hố ngăn cách giữa tôi và người khác, giữa tôi và thế giới. Với chất liệu tâm từ mọi tương quan giữa tôi và người khác, giữa tôi và thế giới trở thành tươi mới, tốt đẹp. Tâm từ khiến thế giới có thể có hòa bình, điều nhân loại luôn luôn mơ ước nhưng hiếm khi đạt được, dù ngắn ngủi.

Tâm từ là sự phục sinh cho con người và thế giới.

“Lực từ này vượt khỏi dục giới, thuận đường Phạm thiên, mở đường giải thoát. Từ này là người dẫn đường bậc nhất của Đại thừa. Từ hay tích tập phước đức vô nhiễm. Lực của từ thiện này vượt hơn tất cả những phước nghiệp do có chỗ nương dựa. Tâm từ hay trang nghiêm ba mươi hai tướng tốt và các tướng đi kèm. Tâm từ là con đường thiện bằng phẳng đến Niết bàn. Lực từ này vui thích pháp lạc, mà chẳng tham muốn tất cả thọ dụng sang giàu của vua chúa. Từ này hay lìa các thứ vọng tưởng, có tâm bình đẳng bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, và hay lìa xa tất cả kiêu mạn, tự cao, tự đại.

Từ này hay làm căn bản cho thiền định giải thoát và tam ma địa, tam ma bát đề(Chỉ Quán). Từ hay khiến tâm lìa phiền não sanh tử. Từ là nhân sanh ra tất cả trí huệ. Do lực từ này nên đồng trụ an lạc. Từ này làm cho người khi đi đứng ngồi nằm đều giữ kín (mật hộ) oai nghi. Từ này hay làm tổn giảm các hành động của tánh dục.

....

Đại từ này là có vô lượng tướng như vậy, nay Như Lai chỉ nói tóm lược”.

Tâm từ dập tắt cơn giận dữ, làm dịu bớt tánh dục, thể hiện oai nghi khi đi đứng ngồi nằm, làm căn bản cho Chỉ - Quán..., nghĩa là từ là căn bản của giới.

Tâm từ là niềm vui của pháp (pháp lạc) khi đi trên con đường. Từ làm tâm an định, “hay lìa các thứ vọng tưởng”, các thứ vọng tưởng này, suy nghĩ sâu xa, đều do từ sự đứt gãy của mình với những người khác và với thế giới chung quanh.

Từ là một căn bản để cho các ba la mật, các hạnh Bồ tát hoạt động, Chỉ, Quán và Chỉ Quán đồng thời có môi trường để khai triển. Từ mà lớn, chiếm trọn cuộc đời mình và tỏa rộng đến những người khác, thì lúc ấy từ là một vốn xã hội, “do lực từ này nên đồng trụ an lạc”. An lạc không chỉ giữa con người với con người, mà an lạc giữa người với thiên nhiên và với thế giới.

Như thế, từ không chỉ “bảo hộ cho tự thân”, mà còn “phát khởi lợi ích cho người khác”, lợi mình lợi người, lợi môi trường chung quanh cho đến viên mãn.

Từ là một loại năng lượng không gây ô nhiễm để xã hội vận hành, tiến bộ tốt nhất có thể.

3/ Tâm từ mở rộng

Kinh nói tiếp:

“Đây gọi là đại từ vô lượng ba la mật của đại Bồ tát. Do thành tựu đại từ này nên đại Bồ tát thấy các chúng sanh thường ôm trùm họ bằng tâm từ, tâm thiện, nên tự mình chuyên cần tu học chánh pháp không có mệt mỏi. Tâm từ của Bồ tát độ thoát rốt ráo tất cả chúng sanh.

Thái tử cần biết, đại từ này có ba:

Chúng sanh duyên từ, là sở đắc của Bồ tát ban đầu khi phát đại tâm.

Pháp duyên từ là sở đắc của Bồ tát đi trên con đường thánh.

Vô duyên từ là sở đắc của Bồ tát chứng vô sanh pháp nhẫn.

Đây gọi là đại từ vô lượng ba la mật của đại Bồ tát. Khi đại Bồ tát an trụ đại từ ba la mật thì tâm từ trùm khắp tất cả chúng sanh”.

Chúng sanh duyên từ là tâm từ duyên với chúng sanh, có chúng sanh làm đối tượng. Tâm từ này còn bị giới hạn và còn cạn vì nằm trong sự thấy tướng chúng sanh. Có tướng các chúng sanh thì vẫn còn phân biệt các tướng chúng sanh và phân biệt giữa tướng chúng sanh và tướng tôi, của tôi.

Đây là tâm từ của Bồ tát chưa được vào địa (Tam Hiền).

Pháp duyên từ là tâm từ duyên với pháp. Pháp ở đây là tánh Không. Duyên với tánh Không thì trong đó có chúng sanh, nhưng chúng sanh là tánh Không, tánh Không là chúng sanh. Như câu kinh ở trên nói, “tận cùng hư không giới là lượng của chúng sanh giới”.

Đây là tâm từ của Bồ tát đã vào địa, đã vào các địa của pháp thân tánh Không. Bồ tát vẫn có tâm từ, hơn nữa tâm từ còn rộng lớn hơn, có tâm từ mà vẫn giải thoát vì tâm từ gắn liền với tánh Không.

Vô duyên từ là sở đắc của Bồ tát chứng vô sanh pháp nhẫn. Vô sanh pháp nhẫn là chứng hoàn toàn tánh Không ở địa thứ tám, vô công dụng đạo.

Ở đây, từ vô duyên là không nhờ vào một cái gì mà tự hiện hữu, tự chiếu sáng. Như mặt trời là tự chiếu sáng, không nhờ vào, duyên với chúng sanh để sáng (chúng sanh duyên từ). Cũng không nhờ vào pháp tánh Không để sáng (pháp duyên từ), vì lúc ấy tâm từ và tánh Không là một, như mặt trời và ánh sáng là một.

Đây gọi là đại từ vô lượng ba la mật của đại Bồ tát. Đại Bồ tát an trụ đại từ ba la mật thì tâm từ trùm khắp tất cả chúng sanh, như hư không giới vô lượng vô biên.

 

Bài viết liên quan