[trích] Trí Huệ Của Đức Tilopa – Cuộc Đời Ngài và Giáo Huấn trong Hằng Hà Đại Ấn
Khenchen Thrangu Rinpoche giảng
Nguyên Chân Việt Dũng dịch Việt.
Một tiểu sử tâm linh của một bậc đại thành tựu giả hay bất kỳ vị đạo sư vĩ đại nào được gọi là một ‘namtar’ trong tiếng Tây Tạng, có nghĩa là “một tiểu sử thánh nhân” hay “một câu chuyện về sự chứng ngộ”. Loại tiểu sử tâm linh này không phải là một cuốn tiểu sử bàn về việc một người sinh ra khi nào, ở đâu cùng những chi tiết tiểu sử khác, mà đúng hơn là một câu chuyện về những sự kiện đã dẫn đến sự chứng ngộ của cá nhân vị ấy.
Một cuốn tiểu sử tâm linh bàn về việc cá nhân ấy đã bắt đầu thực hành thiền định như thế nào, ngài đã dấn thân vào Pháp ra sao, những phương pháp nào ngài đã sử dụng để hoàn thành sự chứng ngộ, và sự chứng ngộ này đã dẫn đến việc cứu độ những người khác như thế nào. Bởi vì đây là những câu chuyện về sự giải thoát trọn vẹn khỏi mọi khổ đau, chúng được gọi là namtar, với âm tiết nam có nghĩa là “giải thoát” và âm tiết tar có nghĩa là “trọn vẹn”.
Các tiểu sử tâm linh thường ít đề cập đến những điều phàm tục hơn trong cuộc đời của một bậc đại thành tựu giả, chẳng hạn như ngài đã mặc loại quần áo nào, ăn loại thức ăn gì, hay ngài đã đi những đâu. Lý do cho điều này là mục đích chính của một tiểu sử tâm linh là chỉ cho các đệ tử của Phật giáo cách thức để thực hành Pháp và minh họa những kết quả của việc thực hành Pháp thông qua tấm gương của một cá nhân đã thực sự hoàn thành Phật quả.
Nhiều người cho rằng những câu chuyện và tiểu sử tâm linh Tây Tạng chỉ phơi bày những thiện hạnh và những phẩm tính của một cá nhân, mà bỏ qua mọi hành vi xấu của họ. Một tác giả người Tây Tạng, Gendun Choephel, người đã viết cuốn Bạch Sử (The White Annals), đưa ra quan điểm rằng những câu chuyện và tiểu sử của Tây Tạng không trình bày toàn bộ sự thật và thường che đậy những lỗi lầm của các vị đạo sư. Có một phần đúng trong điều này, nhưng mục đích của một tiểu sử tâm linh là để cho đệ tử khám phá ra sự thực hành Pháp thực sự là như thế nào, thiền định là như thế nào, và tình yêu thương cùng lòng từ bi được những hành giả vĩ đại thể hiện ra sao. Thế nên, mục đích của một ‘namtar’ là để truyền cảm hứng cho đệ tử, và đây là lý do tại sao chúng trình bày tất cả những phẩm tính kỳ diệu của các vị đạo sư và gạt bỏ những phương diện tiêu cực.
Các học giả phương Tây phàn nàn rằng, “Làm sao có thể coi trọng những tiểu sử tâm linh này? Chúng không cung cấp ngày sinh hay đề cập đến những nơi thực sự mà bậc đại thành tựu giả đã sống và giảng dạy cùng những chi tiết khác.” Điều này là không sai, nhưng tại sao chúng ta cần biết những vị này đã sống vào thời gian nào? Có lẽ ngài Tilopa sống vào thế kỷ thứ bảy, có lẽ vào thế kỷ thứ mười một. Nhưng thực sự thì ai quan tâm chứ? Dù sao thì ngài Tilopa cũng không phải là một con người phàm tình. Chúng ta nên nhớ đến lòng từ bi rộng lớn của ngài Tilopa và ngài Naropa, cùng những nỗ lực lớn lao mà các ngài đã thực hiện để hoằng truyền những giáo lý Đại Ấn và Sáu Yoga Của Naropa, khiến chúng trở nên có thể thực hành được cho mọi người ở Tây Tạng, và bây giờ là cho thiền sinh trên toàn thế giới.
Đức Phật đã ban vô số giáo lý của các kinh và mật điển (tantra) tạo thành tám vạn bốn ngàn phần Giáo Pháp. Ngài đã giảng dạy toàn bộ con đường Pháp một cách vô cùng rộng lớn. Tuy nhiên, nếu chúng ta cố gắng nghiên cứu tất cả những kinh và mật điển này, sẽ rất khó để rút ra những chỉ dạy tinh túy của chúng về cách thức thực hành và khám phá ra làm thế nào để thực sự bước đi trên con đường. Tuy nhiên, bậc đại thành tựu giả vĩ đại Tilopa đã rút ra chính tinh túy của những giáo lý rộng lớn này từ các kinh và mật điển rồi giải thích chính xác cách thức chúng ta nên phát triển sự thực hành của mình. Một ví dụ tương tự là nếu chúng ta đi vào một khu rừng trên vùng núi cao, chúng ta có thể nhận thức được rằng khu rừng chứa đầy thảo dược. Tuy nhiên, kiến thức này là vô dụng trừ khi chúng ta cũng biết loài cây cụ thể nào là cây thuốc và căn bệnh cụ thể nào có thể được chữa khỏi bởi loài cây đó.
Ngài Tilopa (988-1069) là một hóa thân của Đức Chakrasamvara. Ngài đã thực hành Pháp một cách trọn vẹn và thành tựu giác ngộ. Ngài Tilopa đã không thể diện kiến sự hóa hiện hóa thân tối thắng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc đã nhập diệt từ nhiều thế kỷ trước đó. Tuy nhiên, pháp thân tràn đầy sức mạnh khó tin của lòng từ bi luôn hiển lộ liên tục đối với tất cả chúng sinh. Phương diện pháp thân này, cũng như phương diện từ bi của báo thân, vẫn tiếp diễn vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Ngài Tilopa đã có kinh nghiệm trực tiếp về phương diện pháp thân này và đã thọ nhận trực tiếp tất cả những giáo huấn tinh túy từ đức Phật Vajradhara (Kim Cương Trì) về cách thức thực hành.
Ngài Tilopa khác với những bậc trì giữ dòng truyền thừa Kagyu khác như ngài Marpa và ngài Milarepa bởi vì ngài Tilopa là một hóa thân thực sự của đức Chakrasamvara và do đó đã có một kinh nghiệm trực tiếp về đức Vajradhara. Ngược lại, ngài Marpa là một người bình phàm, người đã đạt được sự giác ngộ thông qua thực hành của mình. Tuy nhiên, ngài Tilopa vẫn có những giới hạn vật lý do thân thể bị điều kiện hóa bởi nghiệp của ngài. Ví dụ truyền thống cho điều này là chim garuda, một loài chim sinh ra đã có cánh và có sức mạnh để bay nhưng vẫn bị giới hạn trong một lớp vỏ trứng mỏng manh. Theo cùng một cách đó, cho đến khi mảnh vỏ trứng cuối cùng của hình tướng vật lý bị điều kiện hóa bởi nghiệp của ngài bị phá vỡ, đức Tilopa không thể phát triển sự chứng ngộ trọn vẹn. Không còn nghi ngờ gì nữa, ngài Tilopa là một hóa thân của Chakrasamvara.
Tuy nhiên, bởi vì những che chướng và những cảm xúc phiền não mà hầu hết hữu tình chúng sinh sở hữu, họ đã không thể trực tiếp nhận thức hình tướng của Chakrasamvara. Các vị bổn tôn Chakrasamvara, Vajrayogini (Kim Cương Du Già Thánh Nữ) và Chenrezik (đức Quán Thế Âm) không phải là những thực thể cá nhân giống như các sinh vật sống. Cách tốt nhất để hiểu về các ngài là xem các ngài như là pháp tánh (thật tánh của thực tại), trạng thái bao la trọn vẹn của tánh Không tràn đầy trí huệ của vị đạo sư và có sức mạnh tột bậc cùng sự quang minh sáng tỏ.
Chính bản tánh của sự quang minh sáng tỏ này là lòng từ bi. Có một sức mạnh to lớn trong không gian hoàn toàn trống không của pháp tánh. Sức mạnh đó là như thế nên không cần bất kỳ chủ ý hay sự dẫn dắt cụ thể nào bởi bất kỳ loại tư tưởng nào, nó sẽ hiển lộ để làm lợi ích cho hữu tình chúng sinh theo vô số cách khác nhau. Sự hóa hiện này có thể là như Chakrasamvara, như Vajrayogini, hay như một vị vua, một con vật, một hoàng hậu, hay thậm chí là một người ăn mày.
Sức mạnh của sự quang minh sáng tỏ và lòng từ bi này là như thế nên không cần phải đưa ra một kiểu quyết định nào đó, chẳng hạn như, “Ta sẽ hóa hiện theo cách này để làm lợi ích cho người này người kia,” nó chỉ xảy ra một cách tự phát. Đây là cách chúng ta nên hiểu về bản tánh của các vị bổn tôn này. Các ngài đã khởi sinh từ sức mạnh của sự quang minh và lòng từ bi của Phật tánh, cũng chính là tánh Không của bản thân pháp tánh.
Vì thế, Chakrasamvara đã hóa hiện thành một chúng sinh không thanh tịnh, một sự hiển lộ bình phàm, thác sanh giữa loài người là ngài Tilopa. Hóa thân này có thể được nhìn thấy bởi những con người cần được giảng dạy cách thức để đạt được giải thoát.
[Nếu] Chakrasamvara hóa hiện một cách huy hoàng trong cõi người mà không nương tựa vào một vị đạo sư cụ thể nào hay không thực hiện bất kỳ sự thực hành cụ thể nào hoặc không tuân theo bất kỳ truyền thống nào, con người sẽ nghĩ rằng, “Chà, đây là một sinh vật huyền bí nào đó từ bên ngoài thế giới này, và ta không có cách nào để có thể được giống như ngài ấy.” Ở Ấn Độ, bậc đại thành tựu giả vĩ đại Tilopa đã dấn thân vào sự thực hành Pháp và thành tựu giác ngộ. Ngài đã mang những giáo huấn tinh túy của Đại Ấn và Sáu Pháp của Naropa vào thế giới chúng ta. Những giáo lý này đã được truyền trực tiếp từ ngài sang ngài Naropa, và sau đó được ngài Marpa mang đến Tây Tạng, nơi chúng đã phát triển rộng khắp. Thậm chí ngày nay, một ngàn năm sau, chính những giáo lý này đang lan tỏa trên toàn thế giới và thậm chí đến cả các quốc gia phương Tây. Đây là một dấu hiệu về trí huệ, lòng từ bi và sức mạnh vĩ đại của bậc đại thành tựu giả Tilopa.
Vị đại dịch giả Marpa đã thọ nhận sự trao truyền về tham thiền Đại Ấn và Sáu Pháp của Naropa chủ yếu từ đệ tử của đức Tilopa là ngài Naropa. Ngài đã thọ nhận những điều này dưới hình thức thực hành mật điển Hevajra và, cụ thể hơn, là mật điển Chakrasamvara. Trong mạn-đà-la của Chakrasamvara, ngài Marpa đã thọ nhận tinh túy của phương tiện thiện xảo (Skt. upaya) như là Chakrasamvara và tinh túy của trí huệ (Skt. prajna) như là Vajrayogini. Mạn-đà-la của sự hợp nhất giữa phương tiện thiện xảo và trí huệ là nền tảng của mật điển Chakrasamvara. Khi chúng ta quán tưởng chính mình là Hevajra hay Chakrasamvara trong sự thực hành những mật điển này, chúng ta đang dấn thân vào giai đoạn sáng tạo của thiền định. Sự thiền định về Sáu Pháp của Naropa là giai đoạn thành tựu của mật điển Chakrasamvara.

