NHỮNG PHẨM CHẤT THIỆN LÀNH
TRÍCH: MỘT PHÁP – PHẬT GIÁO ĐANG NỔI LÊN Ở PHƯƠNG TÂY - JOSEPH GOLDSTEIN
Hoàng Lan – Việt Hoàng chuyển ngữ - NXB: Hà Nội & Thaihabooks 2022
--o0o--
Những phẩm chất cốt lõi của niềm tin, sự tin tưởng, tin cậy là những sức mạnh thực tế mà chúng ta có thể trau dồi. Trong các văn bản Phật giáo, chúng được ví như một viên ngọc diệu kỳ có tác dụng làm lắng đọng các tạp chất trong nước. Niềm tin vào khả năng tỉnh thức, sự tin tưởng vào kinh nghiệm về từng khoảnh khắc và vào bản chất của tỉnh thức, tin cậy vào định hướng cuộc đời – tất cả những điều này giải quyết sự nghi ngờ, bối rối và bất an. Chúng tạo ra một môi trường bên trong sáng tỏ, tĩnh lặng và tươi đẹp.
Trong tâm lý học Phật giáo (được gọi là Abhidhamma trong tiếng Pali), niềm tin và các phẩm chất thiện lành khác được gọi là “những tâm trạng đẹp”. Chúng ta có thể nhìn thấy và nhận ra vẻ đẹp của những trạng thái này ở cả người khác và chính mình. Có nhiều hình thức thể hiện của niềm tin. Thầy tôi, Dipa Ma, như nhắc đến ở phần trên, có những thành tựu phi thường, một sự giản dị sâu sắc và một tình yêu trùm khắp thực sự. Cũng như việc nhìn Đức Dalai Lama cười vui vẻ về chuyện chiếc bánh trái cây đã ghi dấu một phẩm chất nhất định của sự vị tha, hồn nhiên và nhẹ nhàng, thì việc nhìn Dipa Ma đảnh lễ Đức Phật cũng in sâu một ấn tượng lâu dài về ân phước phi thời của lòng thành kính. Và trong sự thành kính đó, cả Dipa Ma và Đức Phật đều biến mất. Nó trở thành tình yêu đảnh lễ tình yêu, trí tuệ cúi đầu trước trí tuệ. Không ai ở đó.
Theo một cách ít cao siêu hơn, tôi đã trải nghiệm những lợi ích rất thực tế của niềm tin ngay cả trong những năm đầu thực hành thiền. Tôi đã dành những ngày thực hành xen kẽ giữa thiền tọa – thiền hành, và trong những lúc buồn bã, thất vọng, chán nản hoặc bất cứ khó khăn nào xảy ra, tôi thường tự nhắc mình: “Chỉ cần quy thuận Pháp. Việc của mình chỉ đơn giản là ngồi và đi, ngồi và đi. Những việc còn lại hãy để Pháp lo liệu”. Sự quy thuận Pháp này, niềm tin vào sự thực hành, đã thôi thúc tôi tiếp tục.
VỊ TRÍ CỦA CẦU NGUYỆN
Năm 1992, khi đang nói chuyện tại trường Harvard Divinity, một phụ nữ đến gặp tôi và hỏi về vị trí của cầu nguyện trong Phật giáo. Vào thời điểm đó, tôi không có nhiều kinh nghiệm về việc cầu nguyện trong thực hành của mình và thậm chí có một sự phản đối với ý tưởng về nó, vì vậy tôi trả lời theo quan điểm của truyền thống Theravada rằng cái có thể được gọi là cầu nguyện là tự tụng đọc lại các giáo lý. Theo cách đó, nó là một lời nhắc nhở chung chung về những chân lý căn bản của giáo pháp. Với cách hồi đáp như vậy, tôi không nghĩ rằng đó là một câu trả lời thỏa mãn.
Tuy nhiên, trong truyền thống Tây Tạng và các truyền thống Phật giáo khác, cầu nguyện đóng một vai trò lớn, và khi bắt đầu thực hành Đại Toàn Thiện, tôi bắt đầu hiểu và đánh giá cao sức mạnh và vị trí của nó. Cầu nguyện vận hành theo nhiều cách khác nhau. Đó có thể là một thực hành về lòng biết ơn mà chúng ta trau dồi. Đó có thể là biểu hiện tự phát của sự tin cậy lớn lao. Đối với một số người, đó có thể là sự tin cậy vào chư Phật, chư Bồ Tát và những vị thầy vĩ đại. Lời cầu nguyện cũng có thể là một lời thỉnh cầu sự hộ trì từ chư vị để chúng ta tiếp tục trưởng thành trong Pháp. Như một ví dụ về điều này, sau đây là một phần của lời cầu nguyện do Trưởng lão Gyalwang Drukchen Rinpoche đời thứ mười hai biên soạn:
Xin khẩn cầu người, chư đạo sư tôn quý, hãy từ bi thương tưởng tới con! Con chân thành ước nguyện được người ban phước Hãy đoái thương tới khát khao của đứa con này Xin hãy hộ trì để con quyết tâm giải thoát Xin hãy hộ trì để tâm con vững vàng, sáng suốt Để đời này và những đời kế tiếp Con là hành giả chân chính với tâm trí và trái tim hợp nhất Để mong muốn đặc biệt giúp đỡ những người khác hiện diện tự nhiên Nguyện cho con có thể làm lợi ích cho chúng sinh vô biên.
Theo cách sâu xa nhất, cầu nguyện trở thành cách để nhận ra tâm chúng ta không thể tách rời khỏi tâm những bậc mà chúng ta cầu nguyện. Ở cấp độ này, cầu nguyện đánh thức chúng ta về bản chất sâu thẳm nhất của chính mình.
Khi ẩn tu, tôi bắt đầu mỗi ngày với nghi thức cầu nguyện Một Pháp, khởi đầu với quy y Tam Bảo bằng tiếng Pali và phiên bản Tây Tạng của những lời quy y đã đề cập trước đây. Sau đó, tôi trì tụng một câu thần chú Tây Tạng để thanh tẩy những chướng ngại và che ám. Tiếp theo, tôi hình dung về cái gọi là Cây Quy Y, hình dung về những bậc thầy dẫn đến tận Đức Phật. Khi suy nghĩ về từng vị, tôi tập trung vào những phẩm chất độc đáo và đặc biệt cũng như cách cụ thể mà vị ấy đã khiến mình xúc động và truyền cảm hứng cho mình. Sau khi tưởng nhớ tất cả trong tâm, tôi khẩn cầu sự gia trì của các vị cho những nguyện vọng sâu sắc nhất thúc đẩy sự thực hành của mình. Cuối cùng, tôi kết thúc bằng một vài câu tiếng Pali trích từ kinh về tâm từ ái.
Mặc dù tất cả những điều này chỉ mất 10 hoặc 15 phút, nhưng nó đã cho tôi thấy sức mạnh của cầu nguyện trong thiền. Đó là một cách để điều chỉnh ý nghĩ và cảm xúc phù hợp với ý định của chúng ta. Và nó củng cố phẩm chất của niềm tin giúp ta luôn cởi mở với những gì nằm ngoài cái thấy quy ước thông thường của mình về thế giới. Cầu nguyện bắt đầu ở cấp độ lưỡng phân tương đối – nghĩ đến các đối tượng thỉnh cầu bên ngoài mình – nhưng nó cũng có thể kết nối chúng ta với bản chất tối hậu của tâm. Ai cầu nguyện? Và cầu nguyện ai?
Stephen L. Carter, trong cuốn Civility (tạm dịch: Sự công bình), mô tả cuộc phỏng vấn với Mẹ Teresa:
Một người phỏng vấn hỏi Mẹ Teresa rằng bà nói gì với Chúa khi cầu nguyện. “Tôi không nói gì cả,” bà trả lời. “Tôi chỉ lắng nghe.” Vậy nên, người phỏng vấn hỏi Chúa nói gì với bà. “Ngài không nói gì cả,” bà trả lời. “Ngài chỉ lắng nghe.” Và trước khi người phỏng vấn kinh ngạc có thể hỏi nữa, bà nói thêm: “Và nếu bạn không hiểu điều đó, tôi không thể giải thích.”
Ảnh: Nguồn internet

