NGƯỜI HÓA THUYẾT PHÁP CHO NGƯỜI HÓA DO MÌNH BIẾN RA - Nguyễn Thế Đăng

NGƯỜI HÓA THUYẾT PHÁP CHO NGƯỜI HÓA DO MÌNH BIẾN RA

Nguyễn Thế Đăng

-------o0o-------

Quán thế giới chúng sanh đều như hóa khiến chúng ta vào được cửa tánh Không, dần dần sống trong tánh Không một cách thành thục, và chính từ nền tảng đó làm Bồ tát hạnh giúp đỡ, giáo hóa chúng sanh mà không gây nghiệp, “không tăng không giảm, không được không mất".
NGƯỜI HÓA THUYẾT PHÁP CHO NGƯỜI HÓA DO MÌNH BIẾN RA - Nguyễn Thế Đăng

 

1/ Người do biến hóa ra

Trong các kinh thuộc hệ Bát nhã Không tông và các kinh thuộc hệ Duy thức thường nói đến như huyễn như hóa. Trong bài này sẽ tìm hiểu về người hóa, người được biến hóa ra (hóa nhân), như là một pháp quán đi vào cửa tánh Không và sống trong đó.

Ở đây chỉ lấy ý niệm người hóa từ kinh Đại Bát Nhã do Pháp sư Cưu MaLa Thập dịch. Trong kinh này, người do biến hóa được nói rất nhiều, trong bài chỉ trích ra vài đoạn.

 

Này Tu Bồ Đề! Ví như thầy huyễn thuật ở giữa ngã tư đường hóa ra đại chúng, rồi cung cấp đồ ăn thức uống, nhà phòng, thuốc men...cho đại chúng ấy. Tu Bồ Đề nghĩ thế nào? Đối với thầy huyễn thuật này thật có đại chúng để cung cấp cho chăng?

- Bạch Thế Tôn! Không thật có.

- Này Tu Bồ Đề! Cũng vậy, đại Bồ tát hóa làm Chuyển Luân Thánh Vương cung cấp nhu cầu đầy đủ cho tất cả chúng sanh, dầu có làm mà thật không chỗ cho. Vì sao thế? Vì tướng các pháp như huyễn vậy.

Ví như thầy huyễn thuật ở giữa ngã tư đường hóa ra đại chúng rồi đem pháp mười điều thiện giáo hóa khiến thực hành, cũng đem bốn thiền, bốn vô lượng tâm, bốn vô sắc định, bốn niệm xứ đến mười tám pháp bất cọng giáo hóa khiến thực hành.Tu Bồ Đề nghĩ thế nào? Có chúng sanh thật được nhà huyễn thuật giáo hóa chăng?

 

- Bạch Thế Tôn, không thật có.

- Cũng vậy, này Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát giáo hóa chúng sanh thực hành mười điều thiện đến mười tám pháp bất cọng, nhưng thật không có chúng sanh thực hành mười điều thiện cho đến mười tám pháp bất cọng. Vì sao thế? Vì tướng các pháp là như huyễn.

Đây gọi là đại Bồ tát đại trang nghiêm”.

(Chương Trang nghiêm, thứ 17)

 

Bồ tát sống ở thế giới và giúp đỡ, giáo hóa chúng sanh. Nếu không thấy thế giới và chúng sanh bằng trí huệ bát nhã là không có tự tánh, mà hoàn toàn thật, hoàn toàn cứng đặc, một thế giới chúng sanh hoàn toàn là vật chất, thì với cái thấy sai lầm ấy, vị ấy đã rơi vào sanh tử, nói gì độ thoát chúng sanh.

 

Trong Tám chánh đạo, cái đầu tiên là cái thấy đúng (chánh kiến). Với cái thấy đúng thế giới chúng sanh như chúng thực sự hiện hữu thế nào, người Bồ tát mới có thể làm việc được. Còn nếu thấy khôngđúng thì chưa giúp đỡ được ai mà mình đã tự hại mình trước bằng cái thấy sai lầm.

Ngày nay, với cái nhìn của khoa học, dù ở mức độ sơ cấp, ai cũng biết rằng thế giới không phải cứng đặc, vật chất, mà là thế giới lượng tử.

Bài kệ chấm dứt Kinh Kim Cương nói:

Tất cả pháp hữu vi

Như mộng, huyễn, bọt, bóng

Như sương, như điện chớp.

Hãy quán thấy như vậy.

 

Đoạn kinh trên nói thế giới chúng sanh là như nhà huyễn thuật biến hóa ra, cho nên sự cung cấp cho chúng sanh, sự giáo hóa chúng sanh đều không thật,vì tướng các pháp là như huyễn”. Nếu thấy mọi việc làm là không thật, mọi hiện tượng đều như huyễn, đó là giải thoát khỏi thế giới vật chất (do thân thể và các giác quan tạo ra), khỏi cuộc đời nặng nề bị trói buộc bởi các hiện tượng (các pháp) vật chất.

 

Quán các hiện tượng như huyễn là thế nào? Là các hiện tượng thấy nghe được, kinh nghiệm được, có xuất hiện nhưng không thật vì không có tự tánh, không hiện hữu thật sự.

Ví như nhà huyễn thuật làm hiện ra, hóa ra chúng sanh, thế giới, cung cấp nhu cầu cho họ, giáo hóa họ, nhưng những việc này là không thật, như huyễn vì không thật có chúng sanh.

Ở đây ngoài hệ thống bát nhã quán thẳng tánh Không của tất cả các hiện tượng, người ta cũng có thể sử dụng hệ thống duy thức để quán tất cả các hiện tượng là như huyễn, như mộng vì do thức biến hóa ra.

 

Nếu không quán thấy các hiện tượng là không thật, như huyễn, như hóa, người ta sẽ lọt vào phần tâm thức thô nặng tạo ra thế giới vật chất’. Từ đó các phiền não tham, sân, si, kiêu căng, đố kỵ, phân biệt ta người, phân biệt cái ưa thích và cái ghét bỏ...khởi lên, dần dần nhấn chìm chúng ta vào thế giới sanh tử đảo điên.

 

Nói theo hệ thống Duy thức, ngay khi chúng ta thấy sự không thật có, sự như huyễn như hóa của các hình tướng, ngay khi ấy chúng ta thấy ra Đại viên cảnh trí, trí như tấm gương. Ngay khi thấy các bóng trong gương là không thật, như huyễn, chúng ta thấy ra tấm gương.

 

Ngài Tu Bồ Đề nói:Này các ngài! Như đức Phật biến hóa ra người hóa(hóa nhân).Người do biến hóa này lại biến hóa ra bốn bộ chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Cư sĩ nam, Cư sĩ nữ.Ở giữa bốn bộ chúng này người hóa thuyết pháp.

Ý các ngài nghĩ sao?trong đó có người nói, có người nghe, có người hiểu chăng?

Các Thiên tử nói:Bạch đại đức, không có.

Ngài Tu Bồ Đề nói:Này các ngài! Tất cả các pháp đều như biến hóa, trong đó không có người nói, không có người nghe, cũng không có người hiểu.

...

Tu Bồ Đề nói:Này các ngài! Như thầy huyễn thuật,ở giữa ngã tư đường hóa ra Phật và bốn bộ chúng rồivị Phật ấy nói pháp. Ý các ngài nghĩ sao? Trong đó có người nói, có người nghe, có người hiểu chăng?

Các thiên tử nói:Bạch đại đức, không có.

Ngài Tu Bồ Đề nói:Này các ngài! Tất cả các pháp như huyễn, không có người nói, không có người nghe, không có người hiểu”.

(Chương Thiên vương, thứ 27)

...

Này Tu Bồ Đề! Như thuở quá khứ có Phật hiệu Tu Phiến Đa, vì muốn độ các Bồ tát mà hiện ra hóa Phật, rồi tự diệt độ. Hóa Phật ấy trụ thế nửa kiếp làm Phật sự, thọ ký cho các Bồ tát xong rồi diệt độ. Tất cả chúng sanh thế gian đều cho là Phật thật sự diệt độ. Nhưng này Tu Bồ Đề! Người hóa thật ra không sanh, không diệt.

Như vậy, này Tu Bồ Đề!Bồ tát hành Bát nhã ba la mật phải tin và biết rằng tất cả pháp như hóa”.

(Chương Ba huệ, thứ 70).

Ở đoạn kinh trước, chương Trang nghiêm thứ 17, nói nhà huyễn thuật biến hóa ra đại chúng, rồi cung cấp, cúng dường, giáo hóa cho.Đại chúng là do biến hóa, việc làm cho đại chúng được biến hóa ấy cũng là không thật, như huyễn, còn thầy huyễn thuật, người làm ra biến hóa, vẫn là thật”.

Các đoạn kinh này đi xa đến rốt ráo, cảnh được biến hóa ra không thật đã đành, nhưng người biến hóa ra cảnh không thật ấy cũng không thật, vì là người được biến hóa ra. Cảnh không thật vì do biến hóa, mà người biến hóa ra cảnh không thật ấy cũng do biến hóa. Khách thể đối tượng và chủ thể đều do biến hóa, nên như huyễn như hóa.

Đời sống chúng ta đang thấy nghe hay biết, đang kinh nghiệm đây, thì không thật, vì do biến hóa, hơn thế nữa, chính mỗi người chúng ta cũngkhông thật, vì do biến hóa ra.

Nói theo Duy thức, mỗi người chúng ta đều do biến hóa, vì do tám thức biến hóa ra.

 

Hệ thống kinh Đại Bát Nhã giúp chúng ta dứt trừ ảo tưởng mỗi người là một thực thể cứng đặc, biệt lập, không tương quan và ảo tưởng thế giới là một thực thể tách biệt và xa lạ, phải chinh phục, chế ngự.

Không có cái tôi thật (vô ngã) và không có thế giới thật ở bên ngoài ngăn ngại với con người (vô pháp) là mục đích của hệ thống Bát Nhã và Duy thức.

 

2/ Chứng nghiệm thân tâm và thế giới chúng sanh đều là biến hóa.

Ngồi thiền định thiền quán sâu đến khi thân tâm đều biến mất, chỉ còn hơi thở rất nhỏ nhiệm. Rồi từ định đi ra, chúng ta lại thấy có thân tâm. Với kinh nghiệm ban đầu này, từ một cái trống không và sáng tỏ, xuất hiện lại thân tâm. Như thế thân tâm là người được biến hóa ra từ không gian trống không và sáng tỏ.

Thực hành mỗi ngày như vậy, chúng ta dần dần tin và cảm nhận rằng thân tâm này là do biến hóa. Không chỉ trong trạng thái thiền định, mà trong trạng thái thức cũng phải thấy thân tâm này là người hóa, người do biến hóa mà có. Trong trạng thái thức này cần quán thấy mỗi ý tưởng khởi lên đều là biến hóa từ tâm trống không và sáng tỏ. Điều này giúp hành giả thực hiện được mỗi ý tưởng khởi lên tự giải thoát lấy chính nó của Đại Toàn Thiện (Dzogchen).

Dần dần, sự chứng nghiệm thân tâm và thế giới chúng sanh là như hóa đi vào hai trạng thái khác là khi ngủ và trung ấm. Tất cả đời người chỉ có bốn trạng thái: thức, ngủ, thiền định, và trung ấm. Làm chủ được bốn trạng thái này thì hoàn toàn giải thoát.

Quán như biến hóa khiến chúng ta thoát khỏi thế giới sanh tử mặc dầu vẫn sống trong đó để giúp người giúp đời.

 

Bên ngoài, thế giới hình tướng thì quán như hóa, bên trong thì quán tâm không minh. Cho đến lúc chúng ta thấy thật sự bản tánh của tâm là Không Minh, và sự phóng chiếu của bản tánh của tâm ra bên ngoài là như hóa, như biến hóa.

Sự quán thấy này đưa chúng ta vào Nền tảng, tức là bản tánh của tâm và những hóa hiện thành thế giới hình tướng tức là những diệu dụng của tâm. Điều này Lục Tổ Huệ Năng nói là Tự tánh khởi dụng”.

Với sự huân tu, huân tập cái thấy nền tảng này, những tập khí, chướng ngại sẽ tiêu tan dần dần. Thế giới sanh tử tiêu tan phần nào thì thế giới Niết bàn Pháp thân hiển lộ ở phần đó.

 

3/ Trích thêm vài câu kinh để quán chiếu sâu hơn

Kinh nói Bồ tát đã thấy tánh Không như huyễn như hóa thì việc làm của vị ấy cũng là như huyễn như hóa.

- “Này Xá Lợi Phất! Lúc thực hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát không có lỗi có chỗ đắc (hữu sở đắc).

Vì sao thế? Này Xá Lợi Phất! Lúc thực hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát chẳng có được chúng sanh. Chỉ vì pháp trống không tương tục mà gọi là chúng sanh.

Này Xá Lợi Phất! Đại Bồ tát trụ trong hai đế mà vì chúng sanh nói pháp, đó là Thế đế và Đệ nhất nghĩa đế. Trong hai đế, dầu chúng sanh bất khả đắc, đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật nhờ năng lực phương tiện nên thuyết pháp cho chúng sanh. Chúng sanh nghe pháp ấy đối với cái tôi vàcái của tôi còn bất khả đắc, huống là có người sẽ được Vô thượng giác ngộ và có pháp dùng để tu tập.

- Bạch Thế Tôn!Bồ tát ấy chẳng thấy tánh hữu vi, tánh vô vi mà ở trong ba cõi độ thoát chúng sanh, cũng chẳng có được chúng sanh. Vì sao thế? Vì chúng sanh chẳng buộc chẳng thoát. Vì chúng sanh chẳng buộc chẳng thoát nên không dơ không sạch. Vì không dơ không sạch nên không có sự phân biệt thành năm loài. Vì không có sự phân biệt thành năm loài nên không nghiệp, không phiền não. Vì không nghiệp, không phiền não nên không có quả báo. Vì do quả báo ấy mà sanh trong ba cõi.

- Đúng thế, này Xá Lợi Phất! Như lời ông nói. Nếu chúng sanh là trước có sau không thì chư Phật,Bồ tát có tội lỗi(“quá tội”).Các pháp, năm loài sanh tử cũng như vậy, nếu trước có sau không thì chư Phật,Bồ tát có tội lỗi”.

(Chương Cụ túc, thứ 81)

Chúng sanh là chẳng thể có được (bất khả đắc). Nếu chư Phật,Bồ tát nói rằng chúng sanh trước có rồi sau được giải thoát thì không còn có, nói thế tức là sai lầm, có tội lỗi.

Vì sao thế? Vì chúng sanh chưa từng có, chẳng buộc chẳng giải thoát, như hoa đốm giữa hư không, thì làm sao nói chúng sanh trước có sau không?

 

Thế giới chúng ta sống không có một hạt bụi, một mảy may sự thật nào:

Này Tu Bồ Đề! Chỗ chấp trước sanh khởira nghiệp của phàm phu hoàn toàn không có chút sự thật nào dù nhỏ như đầu sợi lông, mà chỉ do điên đảo mê lầm...

Này Tu Bồ Đề! Như người hóa do Phật biến hóa ra. Người do biến hóa ấy có nghiệp chăng? Do nghiệp ấy làm nhân duyên mà đọa địa ngục, cho đến có dơ có sạch chăng?

Bạch Thế Tôn, không. Người hóa ấy không có sự thật thì làm sao có được nghiệp, rồi do nghiệp ấy làm nhân duyên để đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, làm sao có sự tu hành, rồi do sự tu hành đó mà có dơ có sạch”.

(Chương Bảy dụ, thứ 85)

Với sự quán chiếu liên tục tánh Không sáng tỏ và biểu hiện của nó như huyễn như hóa, cuối cùng người ta thấu đạt bản tánh của tâm,xưa nay không một vật, như ngài Lục Tổ Huệ Năng nói.

 

Này Tu Bồ Đề! Được pháp nhẫn, dù cho mảy may pháp chẳng lành cũng chẳng sanh nên gọi là Vô sanh pháp nhẫn. Tất cả phiền não cần đoạn của Bồ tát đều hết, đó gọi là đoạn dứt . Dùng trí huệ biết tất cả pháp chẳng sanh, đây gọi là biết”.

(Chương Sáu dụ, thứ 77).

 

Quán thế giới chúng sanh đều như hóa khiến chúng ta vào được cửa tánh Không, dần dần sống trong tánh Không một cách thành thục, và chính từ nền tảng đó làm Bồ tát hạnh giúp đỡ, giáo hóa chúng sanh mà không gây nghiệp, “không tăng không giảm, không được không mất".

Bài viết liên quan