GHI CHÉP VỀ BẢN TÍNH CỦA THỰC TẠI
(Cuộc trò chuyện tại nhà riêng của Giáo sư Einstein ở Kaputh, chiều ngày 14/7/1930)
Trích từ: The Religion of Man, tác giả: Rabindranath Tagore, Từ Hoá Hoàng Lan dịch Việt @2026.
--o0o--
Einstein: Ngài có tin vào một Đấng Thiêng liêng (the Divine) tách biệt hoàn toàn khỏi thế giới này không?
Tagore: Không hề tách biệt. Cái Tôi vô hạn (the infinite personality) của Con Người bao trùm cả Vũ Trụ này. Chẳng có gì tồn tại mà không nằm trong Cái Tôi mang tính người này; điều đó chứng minh rằng: sự thật của Vũ Trụ chính là sự thật của con người. Tôi lấy một ví dụ khoa học thế này: Vật Chất được cấu tạo từ các hạt proton và electron với những khoảng trống ở giữa, nhưng nhìn bên ngoài, vật chất lại có vẻ rắn chắc. Tương tự, nhân loại được tạo nên từ những cá nhân, nhưng chính những sợi dây liên kết giữa người với người đã tạo nên sự gắn kết sống động cho thế giới nhân sinh. Toàn bộ vũ trụ này cũng kết nối với chúng ta theo cách đó. Đó là một vũ trụ nhân tính (human universe). Tôi đã theo đuổi tư tưởng này qua nghệ thuật, văn chương và cả niềm tin tôn giáo của mình.
Einstein: Vậy là có hai quan niệm khác nhau về bản tính vũ trụ: (1) Thế giới là một thể thống nhất phụ thuộc vào con người. (2) Thế giới là một thực tại độc lập, không cần đến yếu tố con người.
Tagore: Khi vũ trụ hòa nhịp với Con Người, cái Vĩnh Cửu, ta biết nó là sự thật, ta cảm nó là cái đẹp.
Einstein: Nhưng đó thuần túy là cách nhìn của con người về vũ trụ thôi.
Tagore: Chúng ta không thể có cách nhìn nào khác. Thế giới này là thế giới của con người – ngay cả cái nhìn khoa học về thế giới cũng là cái nhìn của những người làm khoa học. Có một chuẩn mực về lý trí và cảm thụ mang lại cho nó sự thật, đó là chuẩn mực của Con Người Vĩnh Cửu (Eternal Man) – chủ thể trải nghiệm thông qua chính những kinh nghiệm của chúng ta.
Einstein: Đó chính là một khám phá về bản thể con người.
Tagore: Đúng vậy, một bản thể vĩnh cửu. Chúng ta nhận ra nó qua các cảm xúc và hành động. Chúng ta thấu hiểu Con Người Tối Cao (Supreme Man) – người không có giới hạn – thông qua chính những giới hạn của mỗi cá nhân. Khoa học quan tâm đến những gì không bị bó hẹp trong từng cá thể; đó là thế giới khách quan của những sự thật. Tôn giáo thấu suốt những sự thật đó và kết nối chúng với những nhu cầu sâu thẳm của chúng ta. Khi đó, thức cá nhân về sự thật của chúng ta sẽ mang tầm vóc vũ trụ. Tôn giáo mang lại các giá trị cho sự thật, và ta thấy sự thật là tốt đẹp khi ta hòa hợp với nó.
Einstein: Vậy nghĩa là, Sự Thật hay Cái Đẹp không hề tồn tại độc lập với Con Người sao?
Tagore: Đúng thế.
Einstein: Nếu loài người không còn nữa, thì tượng thần Apollo vùng Belvedere sẽ không còn đẹp nữa ư?
Tagore: Đúng vậy.
Einstein: Tôi đồng ý với ngài về khái niệm Cái Đẹp, nhưng với khái niệm Sự Thật thì tôi không đồng ý.
Tagore: Tại sao không? Sự Thật cũng được nhận biết thông qua con người mà.
Einstein: Tôi không thể chứng minh quan niệm của mình là đúng, nhưng đó là "tôn giáo" của tôi.
Tagore: Cái Đẹp nằm trong ý tưởng về sự hòa hợp hoàn hảo với Bản Thể Vũ Trụ (Universal Being); còn Sự Thật là sự thấu hiểu trọn vẹn về Tâm Trí Vũ Trụ (Universal Mind). Mỗi cá nhân chúng ta tiếp cận nó qua những sai lầm, qua những kinh nghiệm tích lũy và qua ánh sáng của thức. Nếu không như vậy, làm sao ta biết được Sự Thật?
Einstein: Tôi không thể chứng minh một cách khoa học rằng sự thật phải tồn tại độc lập với con người, nhưng tôi tin chắc vào điều đó. Ví dụ, tôi tin định lý Pythagore trong hình học là một sự thật gần như tuyệt đối, dù có con người hay không. Nếu có một thực tại độc lập với con người, thì cũng phải có một sự thật tương ứng với thực tại đó; và cũng theo lẽ đó, việc phủ nhận thực tại này cũng chính là phủ nhận sự tồn tại của sự thật kia.
Tagore: Sự Thật – vốn đồng nhất với Bản Thể Vũ Trụ – cốt yếu phải mang tính người. Nếu không, những gì chúng ta nhận biết sẽ chẳng bao giờ được gọi là sự thật – ít nhất là cái sự thật của khoa học và cái chỉ nảy sinh từ tiến trình tư duy logic, hay nói cách khác, được nhào nặn bởi một công cụ tư duy của con người. Theo triết học Ấn Độ, có Brahman – Sự Thật tuyệt đối – thứ không thể thấu hiểu bằng tâm trí cá nhân biệt lập hay diễn tả bằng lời, mà chỉ có thể khám phá ra khi cá nhân ấy tan biến hoàn toàn vào sự vô tận của nó. Nhưng một sự thật như thế không phụ thuộc vào Khoa học. Tính chất của sự thật mà chúng ta đang bàn đến chỉ là một biểu hiện – tức là những gì hiện lên là "đúng" qua lăng kính con người, vì thế nó mang tính người và được gọi là Maya, hay ảo ảnh.
Einstein: Vậy theo cách hiểu của ngài, đó có thể là cách hiểu của người Ấn, thì đó không phải là ảo ảnh của riêng một cá nhân, mà là của toàn nhân loại.
Tagore: Trong khoa học, chúng ta rèn luyện để loại bỏ những giới hạn cá nhân, từ đó đạt tới sự thấu suốt về sự thật nằm trong tâm trí của Con Người Vũ Trụ (Universal Man).
Einstein: Vấn đề cốt lõi là liệu Sự Thật có độc lập với ý thức của chúng ta hay không.
Tagore: Cái mà ta gọi là sự thật chính là nhịp điệu hài hòa giữa hai bờ thực tại: phương diện chủ quan và khách quan. Cả hai mảnh ghép ấy đều thuộc về con người siêu cá nhân (super-personal Man).
Einstein: Ngay cả trong đời thường, ta vẫn luôn cảm thấy thôi thúc phải gán cho những vật dụng mình dùng một thực tại độc lập với con người. Ta làm thế để xâu chuỗi những mảnh ghép từ các kinh nghiệm giác quan một cách logic. Ví dụ, nếu không có ai trong nhà thì cái bàn vẫn cứ nằm yên ở đó.
Tagore: Đúng, cái bàn vẫn ở đó, bên ngoài tâm trí cá nhân, nhưng không nằm ngoài tâm trí vũ trụ. Bởi cái bàn mà tôi đang thấy đây, vốn dĩ được nhận biết bởi chính cái thức mà tôi đang có.
Einstein: Cách chúng ta mặc định rằng sự thật tồn tại tách biệt với con người là điều không thể giải thích hay chứng minh, nhưng đó là một niềm tin sắt đá mà không ai có thể thiếu – kể cả những người sơ khai nhất. Chúng ta gán cho Sự Thật một tính khách quan siêu đẳng; nó là điểm tựa không thể thay thế cho chúng ta – một thực tại độc lập với sự tồn tại, với kinh nghiệm và với cả tâm trí con người – dù chúng ta không thể giải thích rõ nó thực sự nghĩa là gì.
Tagore: Khoa học đã chứng minh được rằng cái bàn rắn chắc kia thực chất chỉ là vẻ ngoài. Nếu không có tâm trí con người cảm nhận, cái bàn đó sẽ không tồn tại. Đồng thời, cũng phải thừa nhận rằng: việc coi cái bàn là một tập hợp của vô số các trung tâm riêng biệt các lực điện từ xoay vần cũng là một khám phá từ chính tâm trí con người.
Trong nỗ lực nắm bắt chân lý, luôn có một cuộc xung đột vĩnh cửu giữa tâm trí vũ trụ của nhân loại (universal human mind) và tâm trí bị bó hẹp trong cá nhân ấy. Quá trình hòa giải không ngừng nghỉ đó vẫn đang diễn ra trong khoa học, triết học và đạo đức của chúng ta. Sau tất cả, nếu có một sự thật nào đó hoàn toàn không liên quan đến con người, thì đối với chúng ta, nó xem như không tồn tại.
Không khó để tưởng tượng một tâm trí mà trong đó, mọi thứ không xảy ra theo không gian mà chỉ theo thời gian, giống như các nốt nhạc nối tiếp nhau trong một bản nhạc. Với tâm trí đó, thực tại chỉ là những giai điệu, và những định lý hình học Pythagore sẽ chẳng có ý nghĩa gì.
Hãy nhìn tờ giấy này: thực tại của tờ giấy hoàn toàn khác với thực tại của văn chương trên đó. Với con mọt ăn giấy, văn chương không tồn tại; nhưng với con người, văn chương mới là sự thật có giá trị hơn cả tờ giấy. Tương tự, nếu có một sự thật không có mối liên hệ nào với lý trí hay cảm giác của con người, nó sẽ mãi là hư không chừng nào chúng ta còn là con người.
Einstein: Vậy thì tôi còn "đạo" hơn cả ngài rồi!
Tagore: "Tôn giáo" của tôi chính là sự hòa hợp giữa Con người siêu cá nhân – tinh thần vũ trụ của nhân loại (universal human spirit) – bên trong chính bản thể cá nhân mình. Đó cũng là chủ đề trong những bài diễn thuyết của tôi về "Tôn giáo của Con người".
Ảnh: nguồn Internet

.jpg)
.jpg)