BA THÂN THEO KINH KIM QUANG MINH
Nguyễn Thế Đăng
-------o0o-------
Nói về Ba Thân, Pháp thân, Báo thân, và Hóa thân, kinh Kim Quang Minh có hẳn một chương trình bày từng thân một, sự liên kết và chức năng của chúng.
Bản dịch đầu tiên do ngài Đàm Vô Sấm (385-433) không có chương này, mặc dù có nói đến Pháp thân và Mười Địa pháp thân. Bản dịch thứ hai có tên Kinh Kim Quang Minh hợp bộ vào đời Tuỳ (581-618), thì có chương Phân biệt Ba thân này. Trong bài này những câu trích dẫn đều dịch từ Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương do ngài Nghĩa Tịnh (635-713) dịch ra tiếng Hán.
1/ Pháp thân
“Này các thiện nam! Tất cả chư Như Lai đều có ba loại thân. Những gì là ba:
- Hóa thân
- Ứng thân (Báo thân)
- Pháp thân”
(Chương Phân biệt Ba Thân,thứ 3)
Kinh định nghĩa rõ Pháp thân là tánh Không:
“Thiện nam tử! Pháp thân này do không có hai thứ mà hiển hiện. Sao gọi là hai thứ không có? Nơi pháp thân này thì tướng và chỗ của tướng, cả hai đều không có, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng một chẳng khác, chẳng sáng chẳng tối. Trí như như này chẳng thấy tướng và chỗ của tướng, chẳng thấy chẳng có chẳng không, chẳng thấy chẳng một chẳng khác, chẳng thấy chẳng sáng chẳng tối. Thế nên hãy biết cảnh giới thanh tịnh và trí huệ thanh tịnh chẳng thể phân biệt, không có trung gian là gốc của đạotịch diệt. Pháp thân này có thể hiển hiện thảy thảy sự nghiệp của Như Lai.
Pháp thân chẳng phải là pháp chuyển động, vận hành, không có tướng khác biệt, làm nền tảng căn bản nên giống như hư không”.
(Chương Phân biệt Ba Thân, thứ 3)
Pháp thân là tánh Không, không có tướng, không thấy tướng nào ở trong đó (vô tướng), giống như hư không, làm nền tảngcăn bản cho mọi xuất hiện, Báo thân và Hóa thân, và “thảy thảy sự nghiệp của Như Lai”.
Pháp thân tức Tánh Không này cũng gọi là Niết bàn, là Chân Như, là Như Lai:
“Thứ ba, vì không đến không đi, và không có gì để nắm giữ, đây là Pháp thân chẳng sanh chẳng diệt. Không có sanh diệt, nên gọi là Niết bàn.
Thứ năm, không có tướng ta người, duy chỉ có pháp sanh diệtđược chuyển y, nên gọi là Niết bàn.
Thứ sáu, phiền não là khách pháp tánh là chủ, không đến khôngđi.Phật rõ biết như vậy, nên gọi là Niết bàn.
Thứ bảy, Chân Như là thật, ngoài ra đều là hư vọng. Thể tánh chân thật tức là Chân Như. Tánh Chân Như tức là Như Lai, gọi là Niết bàn.
Thứ mười, pháp chẳng thật là từ duyên sanh; pháp chân thật chẳng từ duyên khởi. Pháp thân Như Lai, thể là chân thật, gọi là Niết bàn.
Thiện nam tử! Đó là mười pháp nói cóNiết bàn”.
(Chương Như Lai thọ lượng, thứ 2)
Pháp thân là tánh Không, không có sự chia cách giữa chủ thể và đối tượng, không có tướng, không từ duyên sanh, không đến không đi, không sanh không diệt... Đó cũng là Chân Như,Như Lai,Niết bàn. Kinh còn dùng nhiều từ khác để chỉ pháp thân:“Như Lai tánh”, “Như Lai tạng”.“tâm Kim cương”,“Thường, Lạc,Thanh tịnh”,“đại từ đại bi”,“bảo châu như ý”...(Chương Phân biệt Ba Thân, thứ 3)
Pháp thân là tánh Không, vô tự tánh của chúng sanh và của mọi hiện tượng (mọi pháp); đồng thời pháp thân là tánh không hai của sanh tử và Niết bàn. Pháp thân cũng là Chân Như, bản tánh không hai, không khác biệt của các hiện tượng và của Niết bàn.
“Thứ nhất, chư Phật rốt ráo diệt hết các phiền não chướng và sở tri chướng nên gọi là Niết bàn.
Thứ hai, chư Phật khéo hiểu biết sự vô tự tánh của chúng sanh và vô tự tánh của tất cả các hiện tượng, nên gọi là Niết bàn.
Thứ năm, chứng đắc Pháp thân bình đẳng, tướng chân thật không khác biệt, nên gọi là Niết bàn.
Thứ sáu, rõ biết sanh tử và Niết bàn không có hai tánh, nên gọi là Niết bàn.
Thứ tám, nơi tất cả các hiện tượng không có sanh không có diệt mà khéo tu hành, nên gọi là Niết bàn.
Thứ chín, đắc chánh trí, biết chân như pháp giới thật tế bình đẳng, nên gọi là Niết bàn.
Thứ mười, chứng đắc sự không khác biệt của bản tánh các hiện tượng và của bản tánh Niết bàn.nên gọi là Niết bàn.
Đây là mười pháp nói có Niết bàn”.
(Chương Như Lai thọ lượng, thứ 2)
Chỉ với một câu kinh ở trên, sau khi Nghe, Đọc (Văn), rồi Tư duy (Tư) và thực hành thiền định thiền quán sâu xa (Tu), người ta có thể có cái Thấy pháp thân (Kiến đạo vị, Thông đạt vị) và tiếp tục đi sâu vào (Nhập) thực tại ấy.
Kinh diễn tả đắc sự chứng đắc Pháp thân:
“Đại Bồ tát rõ biết Pháp thân như thế nào? Vì trừ các thứ chướng phiền não, vì đầy đủ các thiện pháp, nên chỉ có Như Như, trí Như Như. Đó là Pháp thân”.
2/ Báo thân và Hóa thân
Báo thân và Hóa thân từ đâu có, từ đâu sanh ra? Kinh nói về Ba Thân như sau:
“Thiện nam tử! Nơi thân thứ nhất (Hóa thân) thì tất cả chư Phật cùng chư Phật đồng sự. Nơi thân thứ hai (Báo thân) thì cùng chư Phật đồng ý. Nơi thân thứ ba (Pháp thân) thì cùng chư Phật đồng thể.
Thiện nam tử! Thân Phật thứ nhất này tùy theo ý chúng sanh có nhiều thứ nên hiện đủ thứ tướng, thế nên nói là nhiều. Thân Phật thứ hai thì vì các đệ tử một ý nên hiện một tướng, thế nên nói là một. Thân Phật thứ ba siêu việt tất cả mọi thứ tướng, chẳng phải cảnh giới chấp tướng, thế nên nói là chẳng một chẳng hai.
Thiện nam tử! Thân thứ nhất (Hóa thân) nương dựa vào Báo thân mà được biểu hiện.Thân thứ hai (Báo thân) nương dựa vào Pháp thân mà được biểu hiện. Còn Pháp thân này là hiện hữu chân thật, không nương dựa vào đâu cả”.
(Chương Phân biệt Ba Thân, thứ 3)
Như vậy, Pháp thân “là hiện hữu chân thật, không nương dựa vào đâu cả” nghĩa là Pháp thân tự hiện hữu, không do tu mà có,“không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm”, chính là tánh Không – Chân Như.
Pháp thân là hiện hữu chân thật không dựa vào đâu cả, như hư không, là nền tảng cho Báo thân và Hóa thân biểu hiện. Pháp thân Phật là tánh Không, Báo thân Phật là ánh sáng, và Hóa thân Phật là sự “hóa hiện đủ thứ tướng”.
Hơn nữa như trích dẫn chương Như Lai thọ lượng ở trên, Pháp thân là tánh không hai (bất nhị) của sanh tử và Niết bàn. Thế nên dùở trong sanh tử, con người có thể thấy biết tánh không hai, tức là Pháp thân này.
Cũng trong chương Phân biệt Ba Thân có nói đến Mười Địa do diệt trừ các chướng ngại (phiền não chướng và sở tri chướng)mà chứng đắc. Mười Địa là mười địa trong Pháp thân. Khi vào được các Địa, hành giả đồng một vài phần Pháp thân với tất cả chư Phật, vì như trích dẫn kinh ở trên, Pháp thân là sự “đồng thể của tất cả chư Phật”. Nói cách khác, chư Phật đồng một Pháp thân.
Chính vì được một vài phần Pháp thân của tất cả chư Phật mà Bồ tát đã vào Địa được gọi là Con Phật (Phật tử) như thường thấy trong các kinh.
Kinh cho một hình ảnh minh họa về các mặt nước như tấm gương, ánh sáng, và ảnh hiện trong các nơi có nước như là sự phối hợp tương tác của Ba Thân:
“Lại nữa,Thiện nam tử! Thí như vô lượng vô biên các gương của mặt nước, nương vào ánh sáng nên bóng ảnh của hư không được hiện đủ thứ tướng khác nhau. Hư không vốn là vô tướng.
Thiện nam tử! Các đệ tử nhận sự giáo hóa như vậy là bóng ảnh của Pháp thân. Do nguyện lực mà hai loại thân hiện đủ thứ tướng, nhưng nền tảng Pháp thân thì không có các tướng khác nhau”.
(Chương Phân biệt Ba Thân, thứ 3)
Khi theo hệ thống Nền tảng,Con đường,Quả của Ấn – Tạng (Đại Ấn và Đại Toàn Thiện) thì Nền tảng là Pháp thân, Con đường đi trên Pháp thân, và Quả là Pháp thân đã khai mở, biểu hiện.
Với hành giả,Nền tảng cần phải Thấy, như Thiền tông nói là “thấy Tánh”. Con đường gồm Thiền định, tức là không lìa khỏi cái thấy Pháp thân; và Hạnh là toàn bộ hoạt động thân, ngữ, tâm được ‘nhúng’ hoàn toàn trong Pháp thân, như một con cá hoàn toàn sống trong nước. Rồi tùy theo việc sống sâu hay cạn trong Pháp thân mà có Quả sâu hay cạn.
Như trên đã nói,“chư Phật rốt ráo diệt hết các phiền não chướng và sở tri chướng nên gọi là Niết bàn”. Như thế, Pháp thân Niết bàn luôn luôn có sẵn, người thường chỉ vì bị quá nhiều phiền não chướng và sở tri chướng che khuất mà chẳng thấy Pháp thân.Bất cứ chúng sanh nào cũng có Ba Thân ở dạng tiềm ẩn, chỉ vì bị các chướng che phủ mà cho là không có Ba Thân.
“Phiền não là khách, pháp tánh là chủ, không đến không đi”. Người nào cũng có ông chủ pháp tánhpháp thân này, chỉ vì quá nhiều khách phiền não, nên lạc mất Chính Mình ngay trong nhà mình.
Thực hành Pháp là để tìm thấy Pháp thân Niết bàn, thấy raÔng Chủ pháp tánh để có thể sống Niết bàn ngay trong cuộc sống hiện tại, làm Ông Chủ tự do đối với vòng vây sanh tử xoay vần cuồng loạn này.
3/ Thực hành
Câu kinhnào cũng có thể đưa người ta đến chỗ thấy trực tiếp Pháp thân. Nếu gặp những vị thầy đã từng thấy, vị ấy có thể “giới thiệu trực tiếp vào” Pháp thân, như cách nói của Đại Toàn Thiện, hay “chỉ thẳng Pháp thân” cho người học, như cách nói của Thiền tông.
Bằng niềm tin “Pháp thân này là hiện hữu chân thật”(bắt đầu bằng Thập Tín), người ta áp dụng thiền định thiền quán với tinh tấn, khao khát, chuyên cần...vào chính Pháp thân, như câu kinh ở trên diễn tả:
“nơi tất cả các hiện tượng không có sanhkhông có diệt(cái này chính là Pháp thân)mà khéo tu hành, nên gọi là Niết bàn”.
Khi bằng những pháp trợ đạo, thiền định thiền quán, làm tiêu hủy vài phần phiền não chướng và sở tri chướng, khi ấy một phần Pháp thân sẽ trực tiếp biểu hiện, hiển lộ. Rồi người ta tiếp tục đi trên con đường Mười Địa cho đến cuối cùng.
“Như Lai biết rõ chúng sanh và các hiện tượng(các pháp)thể tánh của chúng đều là Không, lìa Không thì chẳng phải có.Tánh Không tức là Pháp thân chân thật, gọi là Niết bàn”.
(Chương Như Lai thọ lượng, thứ 2)
Thiền định và thiền quán thể tánh của chúng sanh và các hiện tượng là tánh Không, vô tự tánh. Thực hành này làm tiêu tan các màn che của vô minh thấy lầm, khi ấy Pháp thân tánh Không bắt đầu hiển lộ.
Đó là cái Thấy, rồi tiếp tục Thiền định,Hạnh, cho đến khi Pháp thân tánh Không hoàn toàn hiển lộ. Đây gọi là “chuyển y”, chuyển hóa sanh tử thành Niết bàn, “chuyển thế giới sanh diệt thành pháp giới không sanh diệt”.
Ngoài thiền định thiền quán, kinh (Chương Như Lai thọ lượng) còn dạy về các hạnh Bồ tát làSáu ba la mật để thấy hiểu và thâm nhập tánh Không.
Cuối cùng của chương này,Đức Phật dạy Mười Hạnh Như Lai khiến cho các Bồ tát có thể đầy đủ trọn vẹn Ba Thân.Ở đây xin trích ra vài câu:
“Do chứng được tính bình đẳng của sanh tử và Niết bàn, cho nên không ở trong sanh tử cũng chẳng trụ Niết bàn, đối với các chúng sanh hữu tình chẳng sanh chán bỏ. Đó là hạnh của Như Lai.
Do lực thiện căn tâm Từ thuở xưa, vẫn ở trong loài hữu tình tùy theo căn tính, ý thích và hiểu biết của họ, mà chẳng khởi phân biệt, chuyển vần để độ, dạy dỗ làm lợi cho đến tận đời vị lai, không có cùng tận. Đó là hạnh của Như Lai.
Với chúng sanh chẳng cung kính, nói lời chê trách ta, cũng như với chúng sanh cung kính khen ngợi ta,Như Lai vẫn khởi tâm Từ Bi, bình đẳng không hai. Đó là hạnh của Như Lai.
Nếu thấy chúng sanh tu tập chánh hạnh, tâm đại từ vô ngại tự nhiên cứu giúp; nếuthấy chúng sanh tu tập tà hạnh, tâm đại bi vô ngại tự nhiên cứu giúp.”...
Tóm lại, hạnh Phật là sự hợp nhất của hai thứ hoàn hảo là trí huệ tánh Không và đại từ đại bi cứu giúp chúng sanh.
Bồ tát tu cả Ba Thân: Pháp thân là tánh Không – Chân Như; Báo thân là ánh sáng; và Hóa thân là thân trong thế gian làm việc cứu giúp, giáo hóa chúng sanh trong sanh tử luân hồi. Cả ba thân này vốn không lìa nhau, như trên đã nói.

.jpg)
.jpg)

