HỌC KHÔNG BẤT CHỨNG
Nguyễn Thế Đăng

1/ Học Không mà chẳng chứng lấy tánh Không
Học Không bất chứng là tiêu đề phẩm 60 kinh Đại Bát nhã do ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán văn.
“Ngài Tu Bồ Đề thưa: Bạch Thế Tôn! Như lời Phật dạy: Bồ tát không nên khởi tâm chứng đắc pháp Không. Bạch Thế Tôn! Tại sao Bồ tát an trụ trong pháp Không mà chẳng tác chứng?
Phật bảo Tu Bồ Đề: Nếu Bồ tát quán Không đầy đủ, trước tiên nguyện rằng, ‘Nay tôi không nên khởi tâm tác chứng pháp Không, nay là lúc tôi học, chẳng phải lúc tôi chứng’. Bồ tát không chuyên chú nhiếp tâm buộc vào cảnh duyên pháp Không, thế nên Bồ tát không thối thất đối với giác ngộ vô thượng, cũng không thủ chứng A la hán sạch hết hữu lậu. Đại Bồ tát khéo hành như vậy thì diệu pháp được thành tựu. Vì sao thế? Lúc an trụ trong pháp Không, Đại Bồ tát tự nghĩ nay là lúc tôi học, chẳng phải lúc chứng”.
Bồ tát quán Không để thấy trực tiếp tánh Không rồi an trụ vào tánh Không để dù ở thế gian với chúng sanh hầu giúp đở, chỉ dạy cho họ, nhưng không bị ô nhiễm bởi những điều tiêu cực của thế gian, phiền não, tham sân si… Ở thế gian, giúp đở chúng sanh mà không bị nhiễm ô, đồng thời không chứng đắc, tác chứng tánh Không để từ bỏ thế gian và chúng sanh, trở thành một vị A la hán hoàn toàn giải thoát, không còn dính dáng gì với thế gian sanh tử và chúng sanh khổ đau. Hoàn toàn giải thoát, như lời tuyên bố của các vị A la hán, “ Sanh đã tận, những việc cần làm đã làm xong, đây là kiếp cuối cùng, không còn trở lại trạng thái này nữa”.
Trong khi đó một Bồ tát trải qua nhiều kiếp với chúng sanh mà không nhàm chán, mệt mỏi. Kinh Hoa Nghiêm nói rất nhiều về hạnh Bồ tát, ở đây chỉ trích vài câu của phẩm Lìa thế gian, thứ 38, nói về Bồ tát đối với chúng sanh:
“Giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh, tâm không nhàm mỏi.
Đặt tất cả chúng sanh nơi giác ngộ của Phật, tâm không nhàm mỏi.
Nơi mỗi thế giới trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thực hành Bồ tát hạnh, tâm không nhàm mỏi”.
Đây là ý nghĩa câu, “Nay là lúc tôi học, chẳng phải lúc chứng”. Câu này được lập lại nhiều lần trong kinh, chẳng hạn phẩm Phật mẫu, phẩm Đại Như, phẩm Sáu Độ tương nhiếp…
2/ Ba thí dụ
Trong phẩm Học Không bất chứng này có ba thí dụ “tráng sĩ dũng mãnh”, “chim có đủ hai cánh”, “xạ thủ tài ba bắn tên nối tiếp nhau không rớt” để minh họa.
Này Tu Bồ Đề! Ví như tráng sĩ dũng mãnh, giỏi binh pháp sáu mươi bốn môn… giúp người. già yếu qua khỏi chỗ hiểm nạn, chỗ có nhiều giặc cướp…
Cũng vậy Đại Bồ tát ở nơi tất cả chúng sanh, tâm từ bi hỷ xả tràn đầy cùng khắp, đầy đủ sáu ba la mật, chẳng chứng lấy quả vô lậu, học ba môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô tác mà chẳng chứng lấy ba tam muội đó nên chẳng sa vào các bậc Thanh Văn, Độc Giác Phật”.
Hành động ở nơi tất cả chúng sanh để cứu giúp có nguyên nhân và động lực là Từ Bi.
“Này Tu Bồ Đề! Ví như chim có đủ hai cánh, bay lượn trong hư không chẳng bị rơi rớt, dẫu chim ở trong hư không mà cũng chẳng an trụ trong hư không.
Cũng vậy, đại Bồ tát dầu học Không, Vô tướng, Vô tác giải thoát môn mà chẳng tác chứng. Vì chẳng tác chứng nên chẳng sa vào bậc Thanh Văn, Độc Giác Phật. Chưa đầy đủ mười trí lực, đại từ đại bi, vô lượng Phật pháp, nhất thiết chủng trí nên cũng chẳng chứng lấy Không, Vô tướng, Vô tác giải thoát môn.”
Nhờ có đủ hai cánh trí huệ và đại bi, đại Bồ tát như con chim bay lượn trong hư không mà chẳng rơi xuống đất. Bay lượn trong hư không là hoạt động trong thế gian để giáo hóa chúng sanh. Nếu không có hai cánh trí huệ và đại bi, chim sẽ rớt xuống đất, đất là Niết bàn Không, Vô tướng, Vô tác của bậc Thanh Văn, Độc Giác Phật.
“Này Tu Bồ Đề! Ví như xạ thủ đại tài, bắn tên lên hư không, lại dùng mũi tên sau dính vào mũi tên trước, các mũi tên liên tiếp nối với nhau chẳng rơi xuống đất, tùy ý của xạ thủ ấy. Nếu muốn để cho rơi xuống thì thôi không bắn tên nữa, bấy giờ các mũi tên mới rớt xuống đất.
Cũng vậy, đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật, đối với giác ngộ vô thượng khi các thiện căn chưa đầy đủ, nhờ lực phương tiện chẳng chứng lấy Thật Tế; nếu thiện căn đã đầy đủ mới chứng lấy Thật Tế.
Thế nên, Tu Bồ Đề! Khi hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát nên như vậy mà quán tưởng các pháp.”
Chữ Thật Tế có nghĩa là Niết bàn.
Kinh dùng một hình ảnh cụ thể để nói Học Không mà chẳng chứng: những mũi tên được bắn lên liên tiếp, nối nhau, đẩy nhau khiến không có mũi tên nào rớt xuống. Liên tiếp, nối nhau là trí huệ, đại bi và nguyện liên tiếp, nối nhau tạo thành “lực phương tiện”.
Kinh nói nhiều đến “lực phương tiện” và “trí huệ phương tiện thiện xảo. Hai cái này khiến cho các mũi tên ở mãi trên không trung, không bị rơi xuống mặt đất Niết bàn như các vị A La Hán và Độc Giác Phật. Rớt xuống mặt đất là nhập Niết bàn.
Đây là điều rất khó khăn, rất hiếm có. Kinh nói tiếp:
“Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Việc làm của đại Bồ tát rất khó khăn. Vì sao thế? Vì tuy học tướng các pháp, học thật tế, học Như, học pháp tính, học rốt ráo Không, học tự tướng Không, và ba môn giải thoát mà ở giữa đường không rơi vào bậc Thanh Văn, Độc Giác Phật. Việc ấy rất hiếm có.
— Này Tu Bồ Đề! Vì chẳng lìa bỏ tất cả chúng sanh nên đại Bồ tát này phát nguyện như vậy. Tất cả chúng sanh chìm trong cảnh giới vô sở hữu (không có gì cả), tôi phải cứu độ họ. Phải biết đại Bồ tát này thành tựu lực phương tiện, lúc chưa được nhất thiết chủng trí, tu hành ba môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô tác mà chẳng giữa đường chứng lấy Thật Tế.”
Đây là việc rất khó khăn, rất hiếm có: học Không mà chẳng chứng Không. Bồ tát làm được việc khó khăn, rất hiếm có ấy là do lòng bi, thấy chúng sanh chìm đắm trong cảnh giới không có gì cả mà lại tạo thêm nghiệp khổ, nên phát nguyện: Bồ đề tâm nguyện và Bồ đề tâm hạnh. Từ đó có trí huệ phương tiện thiện xảo và lực phương tiện. Nếu không có phương tiện của trí huệ tánh Không, vị ấy sẽ “giữa đường chứng lấy Thật Tế (Niết bàn)”.
Nếu so sánh với kinh Pháp Hoa, “giữa đường chứng lấy Thật Tế (Niết bàn)” là dừng lại ở “Hóa thành”, chứ chưa đến “Bảo sở”.
Các kinh Đại thừa đều có nói về sự việc các đại Bồ tát có thể nhập Niết bàn (chứng diệt, tác chứng thật tế) nhưng không làm thế mà tiếp tục độ sanh cho đến khi thành Phật.
Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập địa nói:
“Bồ tát từ Đệ lục địa trở lên có thể nhập diệt định. Nay an trụ nơi Đệ thất địa thì có thể mỗi niệm nhập diệt định, cũng mỗi niệm xuất, nhưng không tác chứng. Thế nên Bồ tát này gọi là thành tựu thân, ngữ, ý chẳng thể nghĩ bàn, đi nơi thật tế mà chẳng tác chứng.”
Với vị Bồ tát Đệ bát địa:
“Chư Phật bảo: Lành thay! Lành thay! Trí nhẫn này là đệ nhất thuận các Phật pháp. Nhưng Thập lực, Tứ vô úy, Thập bát bất cộng của chư Phật, nay ông chưa được. Ông phải thành tựu được những Phật pháp ấy mà phát khởi tinh tấn, chớ bỏ môn trí nhẫn này.
Ông dầu được tịch diệt giải thoát, nhưng hàng phàm phu chưa chứng được, họ còn đủ các thứ phiền não, bị các thứ giác quán xâm hại nhau. Ông phải thương những chúng sanh đó.
Lại này thiện nam tử! Ông phải nhớ lại bổn thệ nguyện làm lợi ích khắp tất cả chúng sanh, đều làm cho họ được vào môn trí huệ chẳng thể nghĩ bàn...
Chư Phật tử! Nếu chư Phật chẳng ban cho Bồ tát này môn khởi trí, thì Bồ tát này liền nhập Niết bàn rốt ráo, xả bỏ tất cả nghiệp thiện công hạnh lợi ích chúng sanh...”
3/ Trường hợp cụ thể: Đức Thích Ca
Trong Phật giáo, có câu chuyện của đạo sĩ Sumedha, tiền thân của Phật Thích Ca, đã từ chối quả vị A La Hán và được Phật Nhiên Đăng thọ ký thành Phật. Câu chuyện này trích từ Đại Phật Sử, Maha Buddhavamsa (1969), do Mingun Sayadaw biên soạn, Tỳ khưu Minh Huệ biên dịch.
“Khi đạo sĩ Sumedha quyết định như vầy: Hôm nay ta nên dứt bỏ thân mạng của ta. Hãy để Đức Phật (Nhiên Đăng) và bốn trăm ngàn vị A La Hán của ngài giẫm lên lưng ta và đi qua như một chiếc cầu ván mạ hồng ngọc. Việc này sẽ đem lại cho ta lợi ích và hạnh phúc lâu dài.”
Sau khi đã trải mình trên vũng lầy như thế, đạo sĩ Sumedha đã phát khởi chí nguyện thành Phật như vầy:
“Nếu muốn, ngay ngày hôm nay ta có thể trở thành một vị La Hán hết sạch lậu hoặc và các pháp nhiễm ô trong tâm cũng được đoạn trừ. Nhưng ích gì cho một người cao cả như ta là giác ngộ đạo quả A La Hán và Niết bàn như một vị La Hán tầm thường trong giáo pháp của Đức Phật Nhiên Đăng? Ta sẽ cố gắng hết sức để chứng đạt đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
“Giải thoát cho riêng mình thì được gì khi ta là một thượng nhân hiểu biết đầy đủ về trí huệ siêu xuất, có đức tin và sự tinh tấn. Ta sẽ cố gắng chứng đắc đạo quả Phật Chánh đẳng giác và giải thoát tất cả chúng sanh và cả chư thiên ra khỏi biển khổ luân hồi.”
....
“Biết rằng Sumedha có đủ những đặc tính cần thiết ấy, Đức Phật Nhiên Đăng đích thân đi đến đứng phía đầu của Bồ tát Sumedha, Ngài vận dụng thần thông nhìn về tương lai để xem Sumedha, người đang nằm trên bùn với ý chí thành Phật, có thành tựu ước nguyện của vị ấy hay không. Rồi Đức Phật Nhiên Đăng thấy tất cả tương lai của đạo sĩ Sumedha và nói: Sumedha sẽ trở thành một vị Phật tên là Gotama, sau bốn A tăng kỳ và một trăm ngàn đại kiếp.”
Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký cho Bồ tát Sumedha như vậy.
Qua câu chuyện tiền thân và được thọ ký của đạo sư Sumedha, ngài đã từ bỏ đạo quả A La Hán, tương đương với Đệ bát địa Bồ tát, từ bỏ “sự giải thoát cho riêng mình, thủ chứng Niết bàn”, quyết tâm tiếp tục tu hành để thành Phật, “cứu độ vô số chúng sanh khỏi biển luân hồi”.
Như thế ngài đã thành Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni (Gotama).
Đây là một chứng minh cụ thể cho Học Không Bất Chứng.
