HIỆN HỮU VÀ KHÔNG HIỆN HỮU - TULKU URGYEN RINPOCHE - AS IT IS

HIỆN HỮU VÀ KHÔNG HIỆN HỮU

Tác giả: TULKU URGYEN RINPOCHE

Trích từ nguyên tác AS IT IS (những bài pháp trong 2 năm cuối cùng 1994, 1995)

Ban dịch thuật Thiện Tri Thức chuyển Việt ngữ @ tháng1/2026.

Tinh túy của tánh giác bổn nguyên tự nó đã có sẵn trạng thái chứng ngộ của tất cả chư Phật như là ba phương diện của thân kim cang, ngữ kim cang và tâm kim cang. Tu tập trong ba pháp kim cang này thì tự thân đã chứa sẵn trạng thái thâm sâu của samadhi, vốn không gì khác hơn là tự tánh của hành giả.
HIỆN HỮU VÀ KHÔNG HIỆN HỮU - TULKU URGYEN RINPOCHE - AS IT IS

Bất cứ pháp môn nào mà bạn thực hành, thì cũng hãy tu tập nó với Ba điều tuyệt hảo.

Thứ nhất, là sự chuẩn bị tuyệt hảo của Bồ đề tâm. Phải phát Bồ tát nguyện rằng, “Tôi sẽ thành tựu giác ngộ viên mãn vì lợi ích cho tất cả chúng sanh.” Phát sanh lời nguyện này làm động cơ tu học là một cách tối thắng để khởi đầu một thực hành.

Sự chuẩn bị tuyệt hảo này là không thể thiếu được đối với tất cả những hành giả Phật giáo, bởi vì chúng ta đều đã có nhiều kiếp sống khác hơn chỉ là kiếp này. Thị kiến thanh tịnh của các vị toàn giác thấy rằng chúng ta đã trải qua vô lượng kiếp sống. Trong mỗi kiếp, chúng ta có một cha và một mẹ. Chúng ta đã có quá nhiều kiếp sống tới nỗi mỗi một chúng sinh, không có một ngoại lệ nào, đều đã từng là cha và mẹ của chúng ta. Như thế, chúng ta nối kết với tất cả các chúng sinh khác, và khi chỉ mong muốn giác ngộ và giải thoát cho chính mình thì quá hạn hẹp. Để thành tựu giác ngộ trong cách này có nghĩa là sẽ bỏ rơi tất cả cha mẹ của chúng ta.

 

Xin hãy hiểu rằng tất cả chúng sinh, tất cả cha mẹ chúng ta, không muốn gì khác ngoài hạnh phúc. Bất hạnh thay, xuyên qua các ác nghiệp, họ chỉ tạo ra những nguyên nhân để thêm đau khổ. Hãy ghi nhớ trong tâm khảm như thế, và hãy nghĩ nhớ tới tất cả cha mẹ chúng ta, lang thang mù quáng và không ngừng xuyên qua các trạng thái luân hồi đầy đau đớn. Khi chúng ta thực sự ghi nhớ trong tâm khảm như thế, lòng từ bi thúc đẩy chúng ta sớm thành tựu giác ngộ để thực sự giúp đỡ được tất cả họ. Lòng từ bi này không thể thiếu được như là một sự chuẩn bị cho thực hành.

 

Sự chuẩn bị tuyệt hảo cũng bao gồm cả việc quy y. Chúng ta thực sự có khả năng để giúp đỡ những chúng sinh khác không? Chúng ta có sức mạnh, có trí huệ, có từ bi vô lượng để làm như thế không? Bây giờ thì chúng ta chưa có. Ai có? Chỉ có Đức Phật toàn giác mới thực sự có sức mạnh để bảo vệ người khác, cũng như có những giáo pháp thanh tịnh để thành tựu giác ngộ. Thêm vào đó, còn có những người nắm giữ giáo pháp đó trong một sự truyền thừa liên tục. Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng là sự bảo vệ và cứu độ chân thực duy nhất cho những chúng sinh còn vô minh.

Chúng ta nên xem Tam Bảo như nơi trú ẩn của mình, nơi cứu độ và bảo vệ cho chúng ta, từ bây giờ cho tới khi giác ngộ viên mãn. Tam Bảo là nguồn chân thực và tin cậy để bảo vệ chúng ta. Hành vi đặt sự tin cậy của chúng ta và giao phó bản thân nơi Tam Bảo cho tới khi chúng ta thực sự có khả năng làm lợi ích người khác, việc này được gọi là “quy y.” Cùng với Bồ đề tâm, quy y là sự chuẩn bị tuyệt hảo. Quy y là hiện thân cho toàn bộ các giáo lý Nam truyền, trong khi toàn bộ những giáo lý Đại thừa nằm trong việc phát nguyện Bồ tát.

 

Phần thứ hai của ba điều tuyệt hảo được gọi là “phần tuyệt hảo chính yếu, vượt ngoài khái niệm.” Điều này có hai phương diện, giai đoạn phát triển và giai đoạn thành tựu. Điểm cốt tủy của phần tuyệt hảo chính yếu vượt ngoài khái niệm là sự đồng nghĩa với kim cang thừa Vajrayana, giáo pháp về Mật Thừa.

 

Giai đọan phát triển thường được hiểu như pháp quán tưởng để xin gia hộ – quán tưởng cõi Phật và cung điện Phật, trong đó có hình tướng của vị bổn tôn. Cõi này và vị bổn tôn được xem như thế giới thanh tịnh và hữu tình thanh tịnh. Chúng ta có thể nghĩ rằng đây là một sản phẩm của sự tưởng tượng của mình, nhưng thực sự đó là một bản mô phỏng chính xác của trạng thái nguyên thủy của mọi sự. Đó là cách mà mọi sự vốn đã là như thế trong thực tại, cũng còn được gọi là mạn-đà-la vĩ đại của nền tảng biểu lộ.

Do vậy, sự quán tưởng rốt ráo không phải là việc tưởng tượng cái gì đó không hề hiện hữu, nhưng chính là nhìn thấy các pháp như nó hiện hữu thực sự như thế. Nó xác chứng các pháp như là chúng vốn thực đã là như thế. Đó là nguyên lý cốt tủy của Kim cang thừa. Trong nguyên lý này đã bao gồm cả giai đoạn phát triển và giai đoạn thành tựu.

 

Giai đọan phát triển không phải như chuyện tưởng tượng một mảnh gỗ như là vàng. Bất kể tốn bao nhiêu thì giờ để tưởng tượng rằng gỗ là vàng, nó không bao giờ thực sự là vàng. Pháp này chỉ là, nhìn vàng như là vàng; xác chứng hay thấy các pháp thực sự như chúng là. Đó là ý nghĩa của pháp tu quán bổn tôn, tụng mật chú và samadhi (đại định). Thân, khẩu và tâm của vị bổn tôn được hàm chứa trong 3 phương diện của thực hành Kim cang thừa – đó là giai đoạn phát triển, tụng niệm và hoàn mãn.

 

Tất cả các hiện tướng đều là mạn-đà-la của chư bổn tôn, tất cả các âm thanh đều là mạn-đà-la của mật chú, và tất cả các niệm tưởng đều là mạn-đà-la của tâm giác ngộ. Bản tánh của tất cả các pháp hóa hiện và hiện hữu – của toàn bộ thế giới này và tất cả chúng hữu tình – là mạn-đà-la vĩ đại của nền tảng hiển lộ ra, tức trạng thái căn bản của chúng ta. Ba mạn-đà-la này hiện diện như là nền tảng của chúng ta. Việc thực hành một sadhana thì dựa vào việc hiển lộ từ nền tảng [tâm] này. Thực hành sadhana cũng dựa trên một số nguyên lý rất cốt tủy: rằng các tantras được chứa đựng trong các mật chú, các mật chú chứa đựng trong các lời giáo huấn khẩu truyền, và các lời giáo huấn khẩu truyền chứa đựng trong việc ứng dụng của chính bản thân sadhana này.

 

Để tôi diễn giải lại điểm chính yếu này. Trong Kim cang thừa, một sadhana là hành động hiển lộ những gì nguyên sơ đã hiện diện trong hình thức của mạn-đà-la 3 phương diện của bổn tôn, của mật chú và của samadhi (đại định). Khi thực hành một sadhana, chúng ta không áp đặt cái gì giả tạo lên trên trạng thái tự nhiên của các pháp. Mà đúng ra, đó là một cách chứng thực trạng thái nguyên sơ của chúng ta, trong đó bản tánh của tất cả các hình tướng đều là bổn tôn, bản tánh của tất cả các âm thanh đều là mật chú, và bản tánh của tâm là samadhi. Đó là nguyên lý căn bản của giai đọan phát triển. Và sự dị biệt trong sự thâm sâu giữa giáo lý của kinh giáo và mật giáo nằm ở chỗ các giáo lý tiếp cận bản tánh nguyên sơ ra sao. Giáo lý gần nhất, trực tiếp nhất, là giáo lý của Kim Cang Thừa.

 

Lý do nào chia ra giai đọan phát triển và giai đoạn thành tựu? Giai đoạn phát triển tối hậu làm cho chúng ta đạt được chứng ngộ trong một kiếp này và trong một thân này, thông qua bổn tôn, mật chú và samadhi. Và giai đọan thành tựu có nghĩa là vị bổn tôn đó không gì khác hơn là Phật Tánh bổn nguyên vốn tự đầy đủ. Tinh túy của nó hiện diện như là Thân, bản tánh của nó chiếu diệu ra như là Ngữ, và năng lực của nó bao trùm khắp như là Tâm.

Tinh túy của tánh giác bổn nguyên tự nó đã có sẵn trạng thái chứng ngộ của tất cả chư Phật như là ba phương diện của thân kim cang, ngữ kim cang và tâm kim cang. Tu tập trong ba pháp kim cang này thì tự thân đã chứa sẵn trạng thái thâm sâu của samadhi, vốn không gì khác hơn là tự tánh của hành giả. Đó là điểm khởi đầu, cũng là nguồn cội cho phần chính yếu tuyệt hảo vượt ra ngòai khái niệm.

 

Bổn tôn, mật chú và samadhi là thân, ngữ và tâm đã giác ngộ. Thân kim cang có nghĩa là phẩm tính bất động, phẩm tính vốn là bản sắc của vị bổn tôn. Phẩm tính tương tục không gián đoạn là bản sắc của mật chú, trong khi phẩm tính không lầm lỗi hay không mê mờ chính là bản sắc của tâm vị bổn tôn. Ba kim cang này đã sẵn đủ trong Phật Tánh của chúng ta. Chúng cũng được gọi là pháp thân, báo thân, ứng hóa thân.

Các phương pháp thâm diệu này của Kim Cang Thừa –thực hành một sadhana, thiền quán về bổn tôn, tụng niệm mật chú, và tu tập trong samadhi – gọi là một con đường nhanh chóng. Phần cốt tủy của nó là bản tánh của tâm. Đây là ngôn ngữ kim cang không lỗi lầm của Đức Phật toàn giác, pháp có thể cho chúng ta thành tựu giác ngộ hoàn hảo chỉ trong một kiếp. Những giáo pháp này đã được truyền trao không gián đoạn xuyên qua các vị đạo sư lớn cho tới vị bổn sư của tôi. Trong khi tai của tôi may mắn nghe được giáo pháp này, thì chính tôi lại không phải là gì đặc biệt hết. Mặc dù chính tôi có thể nói ra những ngôn từ lớn lao vĩ đại, nhưng xin hãy hiểu rằng tôi chỉ đang lặp lại những gì tôi may mắn được thọ nhận.

 

Rất là khó để thực sự học được một cái gì hay là để được tu học trong pháp môn nào nếu không có một vị thầy. Các bạn có lẽ đều biết rõ như thế, vì các bạn đã tới trường trong quá nhiều năm. Nền học vấn mà chúng ta đã đón nhận là cái để chúng ta có thể sử dụng cho cả trọn đời. Ngay cả thế, nền học vấn của chúng ta đã không đưa chúng ta gần thêm một tấc nào tới cảnh giới giác ngộ hoàn hảo. Những năm nỗ lực miệt mài trên ghế nhà trường thì tuyệt đối không có lợi lạc thật sự nào.

Bởi vì các bạn đều thông minh, tôi nghĩ các bạn có thể hiểu vì sao tôi đang nói như vậy. Bất kể những gì chúng ta làm trong kiếp này, tất cả thông tin mà chúng ta đã gom góp lại và tất cả kiến thức mà chúng ta thu thập và tất cả mọi nỗ lực mà chúng ta đã tích chứa tài sản nhờ vào làm việc và kinh doanh – khi tới lúc lìa trần, thì tất cả đều vô dụng. Nó sẽ không giúp chúng ta được chút nào. Tôi có thể dễ dàng nói như thế bởi vì tôi không có học vấn bao nhiêu! Do vậy, tôi có thể mỉm cười và ra vẻ lớn lối về điều này. Nhưng xin đừng nổi giận.

 

Điều tôi đang cố gắng nói chính là, chúng ta có thể thành công lớn trong việc làm giàu và đạt nhiều lợi ích vật chất. Chúng ta có thể mua áo quần đắt tiền nhất, hay tạo danh tiếng lớn trong thế giới này tới nỗi ai cũng biết tới tên mình. Điều đó có thể làm được. Chúng ta có thể đạt các thành tựu thế gian ấy một cách nhiệt tình, và nghĩ rằng có nhiều thì giờ để thụ hưởng chúng trong khi chúng ta đang sống được nửa kiếp thọ mạng này.

Tuy nhiên, trong nửa thứ hai của kiếp sống này, khi chúng ta già đi, đời sống bắt đầu kém vui. Tôi nói từ kinh nghiệm lúc này. Bắt đầu khó đứng dậy, khó đi lại rồi. Các bạn sẽ thường trở bệnh hơn, và bắt đầu trổ ra đủ thứ bệnh khác nhau. Điều chờ đợi các bạn chỉ là bệnh tật ngày càng nguy ngập hơn và cuối cùng là cái chết.

Tất cả những tai họa này xếp hàng phía trước chúng ta, và chúng ta sẽ gặp chúng tuần tự. Sau cái chết sẽ là cái gì thì hiện chúng ta chưa rõ, bởi vì chúng ta không thể nhìn thấy kiếp kế tiếp của mình. Chúng ta cũng không thể thấy nổi là có cái gì sau kiếp này. Khi chúng ta nhìn xuống mặt đất, chúng ta không thấy cõi thấp hơn nào; khi chúng ta nhìn lên bầu trời, chúng ta không thấy cõi trời nào hay cõi Phật nào. Với những đôi mắt thịt hiện có bây giờ, chúng ta không thấy được bao nhiêu.

Tôi chắc chắn rằng bạn đã biết về điều này. Bạn đã được nhận nhiều lời dạy và có lẽ cũng đã suy nghĩ về chúng rồi. Chẳng có lý do gì để ông già này phải nói thêm về chủ đề này nữa. Ở quê hương tôi có câu tục ngữ: “Hãy nghe lời khuyên ở nơi gần nhất; lấy nước ở nơi gần nhất.”

 

Xin làm ơn xem xét điều này: hiện giờ đây, bạn có một thân, khẩu và tâm, có phải không? Trong đó, tâm là quan trọng nhất. Không phải đúng là thân và khẩu là đầy tớ cho tâm? Tâm là chủ, và nơi đây có thêm nhiều thứ về tâm. Năm nguyên tố thể lý (ngũ đại) là đất, nước, gió, lửa và không gian thì không có khả năng nhận thức. Ngược lại, tâm là cái có thể kinh nghiệm; đó là cái có khả năng nhận thức. Năm cấu phần của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân thì không thể nhận thức và kinh nghiệm. Một xác chết có đầy đủ năm căn như vậy, nhưng xác chết không thể nhận thức, bởi vì nó không có tâm.

Nói chữ xác chết có nghĩa là tâm đã rời đi. Chúng ta nói rằng mắt thấy, tai nghe, lưỡi nếm, mũi ngửi và vân vân – nhưng nó chỉ có thể xảy ra khi có một tâm để kinh nghiệm thông qua các giác quan đó. Vào giây phút của cái mà chúng ta gọi là tâm, là thức hay là tinh thần rời thân này, thì năm căn vẫn còn đó; nhưng không còn kinh nghiệm nào qua chúng được nữa.

 

Tâm có nghĩa là cái biết được vui sướng và đau khổ. Trong tất cả mọi thứ khác nhau trong thế giới này, chỉ có tâm kinh nghiệm và nhận thức; không có gì khác nữa. Do vậy, tâm là cội gốc của tất cả các cảnh giới – tất cả cảnh giới niết bàn cũng như luân hồi. Không có tâm thì không có gì để cảm thọ hay nhận thức trong thế giới này. Nếu không có gì cảm thọ hay nhận thức trong thế giới này, thì thế giới sẽ hoàn toàn trống rỗng, có phải không? Tâm thì hoàn toàn là trống không, nhưng cùng lúc đó nó lại có khả năng để nhận thức, để biết.

 

Ba cõi thấp được xếp theo mức độ kinh nghiệm đau đớn ở mỗi cõi, trong khi ba cõi cao hơn được xếp theo mức độ của niềm vui sướng. Tất cả được dựa trên cái để cảm nhận vui sướng và đau đớn, cái đó là tâm. Nói cách khác, tâm là căn bản hay là cội rễ của tất cả các pháp.

Tâm thì trống không, và trong khi trống không, nó vẫn có thể biết hay kinh nghiệm được. Không gian thì trống không và không biết bất cứ gì. Đó là điểm khác biệt giữa không gian và tâm. Tâm thì tương tự như không gian, trong nghĩa nó là phi vật thể, không phải vật chất. Thật kỳ diệu khi có cái gì đó là phi vật thể mà cũng vẫn có khả năng kinh nghiệm.

 

Có tâm, nhưng nó không có chất thể và không thể cân lường. Các bạn không thể nói là không có tâm, bởi vì nó là căn bản của mọi thứ; chính nó là cái để kinh nghiệm mọi thứ khả thể. Các bạn cũng không thể thực sự nói rằng có một cái gì gọi là tâm, và cùng lúc thì các bạn cũng không có thể nói rằng không có tâm. Nó nằm vượt thoát cả hai cực đoan của hiện hữu (Có) và không hiện hữu (Không). Đó là lý do vì sao người ta nói, “Không hiện hữu, bởi vì ngay cả một vị Phật cũng không thấy nó; không phải không hiện hữu, bởi vì nó là căn bản của cả luân hồi và niết bàn.”

 

Nếu chúng ta không có tâm, chúng ta sẽ là xác chết. Các bạn không phải xác chết, có phải không? Nhưng các bạn có thể nói rằng có một cái gọi là tâm để ta có thể thấy, nghe, ngửi, nếm hay nắm giữ hay không? Thực ra thì, các bạn có thể tiếp tục suy tìm theo kiểu như thế, tới một tỉ năm nữa cũng không thể thấy tâm là cái gì có hay không có. Nó thực sự vượt qua hai đối cực hiện hữu và không hiện hữu.

Xa lìa hai cực này là nguyên lý của Trung Đạo – rằng tâm thì vượt khỏi sự đối nghịch giữa hiện hữu và không hiện hữu. Chúng ta không phải nắm lấy ý tưởng rằng có một cái tâm cụ thể hay là không có. Tâm trong tự thân là cái “như thị” tự nhiên, có nghĩa rằng nó là một nhất thể vô tướng của trống không và rõ biết. Đức Phật gọi cái nhất thể vô tướng này là shunyata, Tánh Không. Shunye có nghĩa là trống không, trong khi tiếp ngữ –ta trong chữ shunyata nên được hiểu như “có khả năng nhận biết.” Trong nghĩa này, tâm là cái biết-trống không. Cái như thị tự nhiên có nghĩa đơn giản là nó thì như thế, nó là như thế. Bản tánh của chúng ta chỉ là như thế. Chỉ cần nhận biết được sự thật này, không tô màu lên với bất kỳ ý tưởng nào về nó.

 

Nếu các bạn tin rằng có một cái gì gọi là tâm, thì nó chỉ là một tư tưởng. Nếu các bạn tin là không có cái gì gọi là tâm, thì nó cũng chỉ là một tư tưởng khác. Trạng thái tự nhiên của các bạn, vượt thoát bất kỳ ý niệm nào về nó – đó là Phật Tánh. Trong các chúng sanh bình phàm, trạng thái tự nhiên này hiển lộ qua sự suy nghĩ, hình thành các tư tưởng. Dính mắc trong suy nghĩ thì y hệt như là một sợi dây xích nặng làm kéo ghì bạn xuống. Bây giờ đã tới lúc để giải thoát khỏi sợi dây xiềng xích này. Khoảnh khắc mà các bạn đánh vỡ dây xiềng của tư tưởng, thì các bạn được giải thoát ra khỏi ba cõi luân hồi.

 

Trong toàn khắp thế giới này, không có gì cao quý hơn là biết được cách phá vỡ xiềng xích này. Ngay cả nếu các bạn xem xét hết cả thế giới, hay khảo sát từng mảnh một để tìm xem có gì cao quý hơn, quý vị sẽ không thấy gì hết. Không có vị Phật nào trong quá khứ, hiện tại và vị lai đã khám phá ra một lời dạy nào thâm sâu hơn hay trực tiếp hơn trong việc thành tựu giác ngộ. Để học hỏi những giáo lý về bản tánh của tâm có nghĩa là hiểu cách để chứng ngộ bản tánh tâm.

 

Cách học pháp truyền thống để thọ nhận sự giới thiệu vào bản tánh của tâm là trước tiên phải tu tập các pháp sơ khởi của “bốn lần 100,000.” Sau đó, các bạn sẽ tu tập pháp mật chú bổn tôn, lui về nhập thất và hoàn tất túc số trì tụng đã ấn định.

Cuối cùng, sau tất cả điều đó, giáo pháp này mới được dạy. Nhưng bây giờ chúng ta đang ở một thời khác rồi. Ai cũng bận rộn tới nỗi không còn thì giờ để ngồi xuống thực sự và trải qua hết mọi thực hành đó. Chúng ta có thể gọi đó là sự tiến bộ trong phát triển vật chất, nhưng chẳng phải nó chỉ khiến chúng ta bận rộn hơn rất nhiều sao? Thực ra, việc tất cả chúng ta được ở bên nhau tại đây, lúc này là một điều rất may mắn, bởi vì việc mọi người có đủ thời gian gặp gỡ nhau như thế này là một sự kiện hiếm hoi.

 

Bổn sư của tôi một lần nói rằng những thời đại khác đang tới. Ngài nói, “Nếu con gặp những ai hỏi về pháp này và muốn nghe về tự tánh của tâm, thì hãy giải thích cho họ. Nếu họ đã chuẩn bị đủ nhân duyên, họ sẽ hiểu, và nếu họ hiểu thì họ sẽ được lợi ích. Làm lợi ích chúng sinh là mục đích của Phật pháp. Được vậy là tốt.”

Khi tôi còn trẻ, tôi thường cố gắng làm như thế. Y hệt như khi có ai chỉ ra mặt trời mọc. Thường người ta nhìn về hướng tây và thấy rằng ánh mặt trời đã chiếu trên đỉnh núi; đó là cách người ta nhận ra rằng mặt trời đã mọc. Nhưng thực sự, điều người ta phải làm chính là phải quay người lại và ngó thấy mặt trời đang mọc ở phương đông. Khi có ai bảo họ làm như thế, họ quay người lại và nói, “A, đúng vậy, mặt trời thực sự đang mọc ở hướng đông!” Đó là cách mà tôi đã giảng dạy, và đó là cách mà tôi vẫn đang giảng dạy.

 

Thế đó, các bạn đã nghe rằng tâm chúng ta thực sự là trống không, nghĩa là nó không phải là một vật cụ thể, và rằng cùng lúc thì nó có khả năng nhận thức, hiểu biết, và kinh nghiệm. Khi các bạn nghe điều này và tư duy về điều này, các bạn có thể tin không? Có rõ ràng không? Các bạn có thể xác quyết trên điểm này không?

 

Tâm chúng ta thì trống không, và nó lại có thể suy nghĩ tư lường. Nói nó trống không có nghĩa là không có thể chất cụ thể với bất kỳ một đặc tính có thể định nghĩa nào. Và, tâm có khả năng suy nghĩ. Không phải thật sự rằng chúng ta luôn luôn suy nghĩ về quá khứ, hiện tại hay vị lai sao? Và không phải rằng chúng ta quá bận rộn suy nghĩ tới nỗi chúng ta luôn luôn khởi hết tư tưởng này sau tư tưởng khác, cả ngày và đêm, không ngừng nghỉ hay sao?

Điều đó không phải là cái gì đột nhiên xảy ra. Nó đã diễn ra như thế từ lâu rồi, xuyên qua vô lượng kiếp sống trong cõi luân hồi. Đó là cốt tủy của hiện hữu luân hồi. Và nếu chúng ta cứ tiếp diễn cùng một cách như thế, chúng ta sẽ bận rộn khởi từ tư tưởng này sang tư tưởng kia cho tới cùng tận kiếp sống này.

Nó không ngừng ở đó. Dĩ nhiên, không có thân nào trong cõi trung ấm (bardo), nhưng tâm cứ tiếp tục khởi niệm tưởng liên tục vì thói quen. Sau một sự tái sinh mới, bất kể là vào trong cảnh giới thấp hơn hay cảnh giới cao hơn, hay là trong tầng địa ngục sâu nhất, mọi thứ chỉ đơn giản là tư tưởng này sinh khởi sau tư tưởng kia. Nhưng trong mọi thời, bản tánh thật của mọi suy nghĩ này lại chính là Phật Tánh – tinh túy giác ngộ.

 

Hãy để tôi cho bạn một thí dụ về quan hệ giữa suy nghĩ và tự tánh của tâm. Tự tánh của tâm như mặt trời trên bầu trời, trong khi suy nghĩ và tư tưởng chỉ như sự phản chiếu của mặt trời trong nước. Không có nước, sẽ khó mà có mặt trời phản chiếu, có phải không? Nước nơi đây là ẩn dụ cho mọi đối tượng được nhận thức, cho mọi thứ được giữ trong tâm. Nếu bạn rút cạn nước ra khỏi hồ, thì các hình ảnh phản chiếu đi đâu? Nó rút cạn theo nước? Hay nó ở lại treo lơ lửng giữa không gian?

Giữ lấy chủ thể và đối tượng, người nhận thức và vật được nhận thức trong tâm, được biểu tượng hóa bởi sự phản chiếu của mặt trời trong hồ. Không có mặt trời trên bầu trời, sẽ có ánh sáng nào trong thế giới này hay không? Không, dĩ nhiên là không. Vậy đó, vậy mà một mặt trời đơn độc lại có thể chiếu sáng tòan bộ thế giới. Mặt trời đơn độc này giống như tự tánh của tâm, trong đó nó hiển dụng trong nhiều cách khác nhau: Nó đưa tới ánh sáng và hơi ấm, và xuyên qua sức nóng thì nó làm gió lưu chuyển. So sánh với điều đó, thì phản chiếu của mặt trời không là gì cả. Có phải sự phản chiếu của mặt trời [trong hồ] có thể chiếu sáng tòan bộ thế giới? Nó có thể chiếu sáng dù chỉ là chiếu sáng một hồ nước đơn lẻ không?

 

Tinh túy giác ngộ của chúng ta, Phật Tánh, thì y như chính mặt trời, hiện diện như thật tánh của chúng ta. Ảnh chiếu của nó có thể được so sánh như các tư tưởng của chúng ta – tất cả các kế họach của chúng ta, ký ức của chúng ta, sự chấp giữ của chúng ta, sự giận dữ của chúng ta, lòng hẹp hòi của chúng ta, và vân vân. Một tư tưởng khởi lên theo sau tư tưởng khác, một chuyển động của tâm xảy ra theo sau chuyển động khác, cứ y như một ảnh phản chiếu này theo sau ảnh phản chiếu khác xuất hiện. Nếu bạn kiểm soát mặt trời đó trên bầu trời, có phải là bạn tự động kiểm soát toàn bộ các ảnh phản chiếu của nó trong nhiều hồ nước trên khắp thế giới? Tại sao lại chú ý tới tất cả các ảnh phản chiếu khác nhau? Thay vì cứ xoay vòng bất tận trong cõi luân hồi, hãy chứng ngộ ra mặt trời đơn nhất đó. Nếu bạn chứng ngộ bản tánh của tâm bạn - Phật Tánh - thế là đủ rồi.

 

Hãy hiểu sự khác biệt giữa Phật Tánh và sự biểu hiện của nó, tức là các tư tưởng. Các tư tưởng xuất hiện trong nhiều lọai. Có sự chấp thủ, có giận dữ, và có si độn; có 51 lọai tâm sở hữu pháp, có 80 trạng thái tư tưởng nội tại, có 84,000 cảm xúc phiền não. Bất kể bao nhiêu lọai tâm có thể biến hiện, tất cả chúng đều, một cách đơn giản, là các biểu hiện bản tánh của tâm.

Và 84,000 loại khác nhau của cảm xúc phiền não thì y hệt như 84,000 ảnh phản chiếu khác nhau của mặt trời trong các hồ nước khác nhau. Nếu bạn nắm lấy mặt trời và nhét nó vào túi mình, thì một cách tự động bạn kiểm soát toàn bộ 84,000 ảnh phản chiếu. Tương tự, ngay giây phút mà bạn chứng ngộ trạng thái tự nhiên của bạn, cái Tâm Phật đó, cái tinh túy giác ngộ đó – trong cùng khỏanh khắc, toàn bộ 84,000 lọai cảm xúc phiền não cũng đồng thời biến mất.

 

Tất cả các niệm tưởng khác nhau chúng ta có hoặc là trong quá khứ, hoặc hiện tại hay tương lai, cho nên chúng có thể được gọi là niệm tưởng quá khứ, niệm tưởng hiện tại, hay tương lai. Tiếng Tây Tạng gọi niệm tưởng là ‘namtok’. Chữ ‘nam’ trong đó có nghĩa là các hình tướng được nhận biết của năm giác quan và các đối tượng tinh thần. Tokpa có nghĩa là khái niệm được hình thành về cái được nhận thức. Chúng sinh vẫn đang liên tục bận rộn sinh khởi ý thức, khởi ý niệm này theo sau ý niệm kia về những gì được kinh nghiệm. Cách suy nghĩ về các niệm tưởng trong tâm bạn, một cách chính xác, chính là những gì ngăn che sự giải thoát và giác ngộ.

 

Nếu chúng ta cố gắng để ngừng suy nghĩ thì chỉ tệ hại hơn. Bạn không có thể rũ bỏ hay ném đi sự suy nghĩ. Bạn có thể ném bỏ cái bóng của bạn sao? Bạn có thể có cách nào cắt dòng chảy của niệm tưởng được tạo ra bởi tâm bạn, có thể làm vậy bằng cách kích nổ một quả bom nguyên tử ư? Như thế có thể sẽ ngưng tâm khỏi suy nghĩ? Chắc chắn, quả bom sẽ giết chết bạn, nhưng các niệm tưởng của bạn sẽ tiếp tục trong cõi trung ấm và dẫn vào kiếp sống kế tiếp. Có thứ gì khác trong thế giới này có thể chặn đứng tâm khỏi suy nghĩ?

Để ngưng suy nghĩ, bạn cần phải chứng ngộ tinh túy tâm. Nó y hệt như nhìn thấy mặt trời trên bầu trời chỉ một lần – là vĩnh viễn về sau, bạn biết mặt trời trông ra sao rồi. Nếu bạn chạy theo các ảnh phản chiếu của mặt trời, bạn sẽ không bao giờ có thể thấy tất cả các ảnh phản chiếu có thể có. Làm thế sẽ không bao giờ có sự kết thúc. Mặt trời trên bầu trời là mặt trời thật, và không có nó, sẽ không có ảnh phản chiếu nào. Ảnh phản chiếu trong nước chỉ là một bản phóng chiếu thôi.

 

Cùng cách đó, tất cả các niệm tưởng chỉ là biểu hiện hay sự phô diễn của tinh túy tâm; tự chúng không phải là tinh túy tâm của bạn. Nếu không xa lìa nổi các niệm tưởng, nếu không làm tiến trình khởi niệm tan biến, thì không có cách nào để giải thoát hay giác ngộ. Có một câu nói, “Hãy sử dụng niệm tưởng như chính thuốc chữa trị cho nó.” Trong cùng cách đó, ảnh phản chiếu của tất cả mặt trời tới từ mặt trời thật, nguyên bản. Nếu bạn nhận ra mặt trời thật trên bầu trời, thì không cần chạy lòng vòng theo các ảnh phản chiếu của nó trong thế giới này để tìm thấy nó.

 

Điều quan trọng nhất là tâm trống không-rõ biết của bạn. Tánh Không tự nhiên là pháp thân, cũng gọi là tinh túy trống không. Khả năng tự nhiên của bạn để biết và nhận thức là tánh rõ biết, là báo thân.

Trạng thái trống không và trạng thái rõ biết là một thể thống nhất nguyên thủy. Câu nói nổi tiếng "sự thống nhất của cái biết-trống không thấm đẫm với sự tỉnh giác " đề cập đến bản tánh của chính bạn, tinh túy của tâm bạn.

Sau khi được chỉ ra bản tánh của bạn và nhận biết tinh túy tâm, bạn thấy rằng không hề có “vật” nào để thấy. Như tôi đã liên tục nói, “Không thấy có một vật nào chính là cái thấy tối thượng.” Chúng ta cần thấy như thế. Nó được thấy ngay ở khoảnh khắc bạn nhìn, và trong khoảnh khắc nhìn thấy [như thế] thì nó được giải thoát.

Cái thấy này có thể không kéo dài hơn vài giây đồng hồ, có lẽ không lâu hơn 3 cái búng ngón tay. Sau thời lượng ngắn ngủi đó, chúng ta hoặc là bị dẫn đi bởi niệm tưởng về cái gì đó, hoặc là chúng ta quên mất. Điều đó xảy ra cho tất cả mọi chúng sinh bình phàm. Từ vô lượng kiếp cho tới giờ, chúng ta cứ liên tục bị dẫn đi bởi sự quên lãng và bởi suy nghĩ tư lường.

Ngay khoảnh khắc mà bạn nhận ra, thì nó được thấy liền. Ngoài ra không có cái nào khác mà bạn đã bỏ lỡ. Nó không giống như hư không nhìn vào chính nó, bởi vì hư không thì không thấy bất cứ gì. Khi tâm của bạn, vốn có khả năng rõ biết, nhận ra được chính nó, thì bạn lập tức thấy rằng không hề có “vật nào” để thấy. Nó đã được thấy trong cùng khỏanh khắc đó. Vào ngay khoảnh khắc đó, sẽ không có niệm tưởng nào hết, bởi vì cái gọi là “niệm tưởng hiện tại” đã tự nhiên biến mất.

 

Cái khoảnh khắc nhận biết bản tánh tâm được gọi là tâm bình thường, cho dù là bạn nói về Đại Ấn (Mahamudra), Đại Toàn Thiện (Dzogchen) hay Trung Đạo (Great Middle Way). Khi chứng ngộ, đừng làm bất cứ gì tới nó; đừng tìm cách điều chỉnh hay cải tiến nó; đừng biến đổi nó bằng cách chấp nhận một điều này và bác bỏ một điều khác, hay bị thúc đẩy bởi hy vọng hay sợ hãi – đừng làm bất cứ gì tới nó. Một người bình phàm thì bị dính mắc vào việc khái niệm hóa với niệm tưởng hiện tại. Xin đừng khái niệm hóa với một niệm tưởng hiện tại nào. Niệm tưởng hiện tại có nghĩa là muốn hay không muốn, với hy vọng hay sợ hãi. Hãy cắt liên hệ ra khỏi niệm tưởng hiện tại; đừng theo nó. Khoảnh khắc mà bạn vượt thoát khỏi các niệm tưởng của ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai), thì đó là tâm Phật.

 

Bạn không phải cố gắng để không nghĩ về niệm tưởng hiện tại. Chúng ta cần phải tu tập trong sự buông xả những gì được suy nghĩ về; đó là cách thực tập. Trong sự buông xả này, không có tới ngay cả một hạt bụi để tưởng tượng về, do vậy nó không phải là một hành động của thiền định. Trong cùng lúc đó, đừng để bị xao lãng ra khỏi đây cho dù một giây đồng hồ. Cũng như cố gắng tưởng tượng ra hư không, bởi vì không có gì cần được tưởng tượng ra hay là để thiền quán trên đó. Bạn có cần phải tưởng tượng về bất cứ cái gì để tưởng tượng về hư không?

 

Khi chúng ta nghe “Đừng để bị xao lãng,” chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta phải làm điều gì để không xao lãng. Người ta thường nghĩ rằng cố gắng để duy trì sự không xao lãng là một lọai hành vi cố ý. Điều này thực sự sẽ là như thế, nếu mục đích là duy trì một trạng thái đặc biệt về định tâm trong thời gian lâu dài. Hành vi cố ý sẽ cần tới trong trường hợp đó. Nhưng tôi không nói bạn làm như thế. Khoảnh khắc của cái biết trốnng không tự nhiên không tự nó kéo dài lâu đâu, nhưng như thế là rất hoàn hảo. Bạn không phải tìm cách kéo dài khoảnh khắc đó; mà chính là, hãy lặp lại nó nhiều lần. “Những khoảnh khắc ngắn được lặp lại nhiều lần” – đây là việc thiền tập trong sự tự nhiên không tạo tác giả tạo. Sự tự nhiên không tạo tác giả tạo có nghĩa là bạn không phải làm bất cứ thứ gì trong trạng thái đó. Nó y như lắc một cái chuông. Một khi, bạn lắc cái chuông, thì có sự liên tục của âm thanh phát ra; bạn không phải làm bất cứ gì để cho âm thanh tiếp diễn. Chỉ đơn giản để cho sự liên tục đó kéo dài bởi chính nó, cho tới lúc nào đó âm thanh tan biến đi.

 

Vào khoảnh khắc nhận ra được tinh túy tâm, thì hãy để nó trong trạng thái tự nhiên, đơn giản như nó là. Nếu bạn cứ lắc chuông hoài, âm thanh sẽ bị gián đoạn bởi sự nỗ lực cố gắng. Hãy để sự nhận biết tự hiển lộ, mà đừng can thiệp biến đổi nó. Đó là cách không để mất sự tương tục. Chẳng bao lâu, sự nhận biết đó sẽ biến mất tự nó. Khi mới tu tập, một cách tự nhiên chúng ta sẽ lãng quên sau đó một chút xíu. Chúng ta không cần tìm cách ngăn cản việc đó, hay là canh chừng để chống lại với nỗ lực lớn lao. Một khi bị tán tâm xao lãng, một lần nữa hãy nhận biết trở lại. Đó chính là thiền tập.

 

Mỗi cấp độ của giáo lý đều có mục đích riêng, và cho dù trọng tâm của Phật Pháp là để nhận biết tinh túy tâm và tu tập trong đó, nhưng vẫn có trở ngại cần được quét sạch và các pháp tu gia trì cần được thực hiện.

Gọi là chướng ngại có nghĩa là điều gì đó ngăn không cho chúng ta duy trì trong trạng thái tự nhiên. Những thứ này có thể được quét sạch bởi các pháp tu tập nào đó. Cũng có những cách để tăng tiến sự thực hành của chúng ta, và để đi vào chiều sâu kinh nghiệm hơn. Hai pháp này – quét sạch trở ngại và tăng tiến trang nghiêm – thì cực kỳ hữu dụng.

 

Các chướng ngại bên ngòai thì liên hệ với môi trường của chúng ta; các chướng ngại bên trong thì liên hệ với thân thể chúng ta, và các chướng ngại sâu hơn nữa thì liên hệ tới các mô hình niệm tưởng của chúng ta. Để quét sạch trở ngại, cần phải thực hiện các pháp tư lương, và pháp thực hành nội quán về bổn tôn, mật chú và samadhi. Các nghiệp chướng cần được gỡ bỏ, vì chúng là kết quả của các hành vi xấu ngăn che bản tánh của chúng ta. Nương tựa vào Phật, Pháp, Tăng và vào vị Đạo sư, các vị bổn tôn và dakini thì sẽ mau chóng tịnh hóa được các nghiệp chướng.

Còn các pháp thực hành tăng tiến trang nghiêm là để vun bồi tâm sùng mộ các bậc giác ngộ, và lòng từ bi đối với chúng sinh. Lòng sùng mộ và lòng từ bi sẽ làm vững mạnh việc nhận ra bản tánh tâm. Các pháp tu khác cũng giúp trang nghiêm tinh túy tâm; tuy nhiên, Đức Karmapa đời thứ 3 nói rằng điểm cốt tủy nhất là, “Trong khoảnh khắc của tình yêu thương, thì tinh túy trống không bắt đầu chiếu sáng không ngăn che.”

 

Trong khoảnh khắc của lòng sùng mộ hay là lòng từ bi được cảm nhận chân thực, từ sâu thẳm trong tâm chúng ta, thì thực sự không còn gì ngăn trở chúng ta lâu hơn. Chúng ta càng tu tập lòng sùng mộ đối với tất cả các bậc thầy giác ngộ, chư Phật và chư Bồ Tát, thì chúng ta càng tăng tiến trong việc nhận ra tinh túy tâm. Một cách tương tự, phát khởi lòng từ ái và bi mẫn đối với tất cả chúng sinh cũng sẽ giúp ích rất nhiều trong việc trang nghiêm sự chứng ngộ Phật Tánh.

 

Chúng ta hãy kết thúc bài giảng này bằng cách thực hiện phần cuối của Ba Pháp Tuyệt Hảo, đó là sự hồi hướng. Xin nguyện cho công đức học các giáo lý này, hồi hướng tới và làm lợi lạc khắp tất cả các chúng sinh.

Bài viết liên quan