LỜI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT DI LẶC - ĐỨC TAI SITUPA XII

LỜI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT DI LẶC

Đức Tai Situpa Rinpoche thứ XII giảng giải

Nguyên Chân chuyển dịch sang Việt Ngữ.

Lời Nguyện này được đưa ra trong Kinh Di Lặc Sở Vấn (Request of Maitreya - Maitreyaparipriccha, Jampa Zhupa). Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuật lại lời cầu nguyện này mà Đức Di Lặc đã thực hiện khi còn là một vị bồ-tát đang khao khát hoàn thành sáu Ba la mật và đạt được mười cấp độ của quả vị bồ-tát (Thập địa).
LỜI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT DI LẶC - ĐỨC TAI SITUPA XII

 

Xin các bạn hãy tự nhủ với chính mình rằng chúng ta phải đưa tất cả những chúng sinh mẹ hiền của mình đạt đến Phật Quả, và vì lý do này mà chúng ta đang lắng nghe Lời Nguyện của Đức Di Lặc. Vì vậy, xin hãy lắng nghe với động cơ thích hợp. Giáo Pháp mà chúng ta đang lắng nghe, là Vua Của Những Lời Nguyện, nói ra bởi Đức Di Lặc.

 

Về việc tôi đến tham dự Kagyu Monlam lần thứ 38 này, cách đây vài tháng, đại diện trụ xứ của các Đức Gyalwang Karmapa, Tu viện Rumtek và Tu viện Tergar ở Bodh Gaya, đã mang đến cho tôi một lá thư, trong đó nói rằng Đức Gyalwang Karmapa thứ 17 đã bảo họ mời tôi chủ trì Kagyu Monlam lần thứ 38 này.

 

Kagyu Monlam

 

Nói chung, Kagyu Monlam bắt đầu tại Bodh Gaya vào năm 1983. Trước đây, tôi đã có thể tham dự Monlam hai lần. Những lần tôi đến, tôi không thể ở lại từ đầu đến cuối, nhưng tôi vẫn có thể tạo được mối nhân duyên tốt đẹp với Monlam.

 

Giờ đây, việc có thể đến thánh địa Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) và có thể trì tụng Vua Của Những Lời Nguyện Về Đạo Hạnh Tốt Đẹp, vào thời điểm đặc biệt của đại lễ Kagyu Monlam lần thứ 38 này là một cách để tập hợp và hoàn thiện sự tích tụ công đức. Và đối với các bạn, đây là một cơ hội để thực hành Chánh Pháp thực sự và là nguồn cảm hứng để các bạn thực hành điều này, và vì vậy tôi đã đến đây.

 

Trong ba ngày, bắt đầu từ hôm nay là phần giảng pháp, sau đó tiếp theo là đại lễ Kagyu Monlam chính thức. Ở Tây Tạng, có tám cỗ xe hay là các dòng truyền thừa, và trong số đó dòng truyền thừa Kagyu, được truyền xuống từ ngài Tilopa, đến Naropa, đến Dịch giả Marpa, đến Milarepa, đến Gampopa và sau đó tiếp tục được truyền xuống. Vì vậy chữ Ka – trong từ Kagyu, có nghĩa là khẩu truyền (sự trao truyền), bốn sự trao truyền về những chỉ dẫn cốt lõi. Những sự trao truyền này chứa đựng các chỉ dẫn về con đường phương tiện và con đường giải thoát. Đây không phải là điều chúng ta nói đến hôm nay. Chúng ta không có nhiều thời gian cho việc giảng pháp từ 8 giờ sáng đến 9 giờ 30 và bây giờ đã gần 9 giờ rồi.

(…)

Để tôi có thể đến đây và thực hiện những hoạt động vĩ đại đến mức khó tin như Đức Gyalwang Karmapa thực hiện, thì tôi không thể làm được. Tôi không thể thực hiện những hoạt động rộng lớn của chư Phật như Ngài có thể làm. Tuy nhiên, tôi có thể tập trung chúng ta vào việc đếm số lần trì tụng Vua Của Những Lời Nguyện. Sau này, khi Đức Karmapa thứ 17 trở lại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya), thì một lần nữa, như trước đây, Ngài sẽ có thể đến và thực hiện lại những hoạt động rộng lớn này.

 

Thay vào đó, tôi đã yêu cầu các đại diện Karma Kagyu trì tụng một triệu biến Vua Của Những Lời Nguyện. Điều này sẽ dễ dàng vì chúng ta có 5.000-6.000 thành viên tăng đoàn ở đây.

Tôi cũng yêu cầu họ trì tụng 100 triệu thần chú Samaya Vajra (Kim Cương Mật Nguyện). Điều này sẽ dễ dàng. Tại các tu viện của chúng tôi, chúng tôi thường tụng 100 triệu thần chú Mani hoặc Vajra Guru, và nếu có 500 hoặc 600 chư tăng, thì không mất nhiều thời gian chút nào và rất dễ hoàn thành. Vì vậy tất cả chúng ta nên trì tụng thần chú Samaya Vajra. Nó có trong các sách cầu nguyện của chúng ta và chúng ta tụng nó mọi lúc. Là những cá nhân bình thường mang tất cả những trói buộc và gông cùm, và chúng ta đang ở trong luân hồi, nên không phải là không thể có chuyện chúng ta đã vi phạm các giới nguyện biệt giải thoát, giới nguyện Bồ tát và Mật thừa. Điều này [việc vi phạm giới nguyện] có phải là không thể xảy ra không? Tuyệt đối không.

Vì vậy, điều quan trọng là khôi phục các giới nguyện của chúng ta, làm những việc như lễ Sojong (Bố-tát) của giới Biệt giải thoát và các giới nguyện Mật thừa. Một điều chúng ta có thể làm thường xuyên là các giới nguyện Samaya Vajra. Nếu chúng ta thực hiện điều này theo các văn bản miêu tả lợi ích của việc thực hành, nó sẽ khôi phục tất cả các vi phạm và sự phá vỡ samaya của chúng ta. Điều này sẽ giúp khôi phục những sự vi phạm.

Đó là phần Giới thiệu cho buổi giảng pháp. Bây giờ tôi sẽ bắt đầu phần chính của bài giảng.

 

Nguồn gốc và Bối cảnh Lời nguyện của Đức Di Lặc

 

Bây giờ tôi sẽ nói về bối cảnh của Lời Nguyện này. Vị Bổn sư của chúng ta, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đã chuyển bánh xe Pháp (Chuyển Pháp luân) trong ba chu kỳ, và Lời Nguyện của Đức Di Lặc được tìm thấy trong lần chuyển pháp luân thứ ba. Kinh Đại Bảo Tích (Ratnakūṭa Sutra - könchok tsekpa) bao gồm 6 tập, và có 49 chương. Trong Tập thứ 6 có mười bốn chương.

 

Lời Nguyện này được đưa ra trong Kinh Di Lặc Sở Vấn (Request of Maitreya - Maitreyaparipriccha, Jampa Zhupa). Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuật lại lời cầu nguyện này mà Đức Di Lặc đã thực hiện khi còn là một vị bồ-tát đang khao khát hoàn thành sáu Ba la mật và đạt được mười cấp độ của quả vị bồ-tát (Thập địa). Lời nguyện này cũng được bao gồm trong phần Tạp của bộ Tengyur.

 

Lời nguyện này của Đức Di Lặc, không phải là Lời nguyện của Đức Phật hiện tại của chúng ta. Đức Di Lặc vẫn chưa hoàn toàn giác ngộ Phật Quả. Ngài đang ở cung trời Đâu Suất (Tushita) với tư cách là vị nhiếp chính của Đức Phật, và sẽ hoàn toàn thức tỉnh để đạt được sự giác ngộ trọn vẹn và hoàn hảo như là vị Phật thứ năm trong thời đại của chúng ta. Vào lúc này Ngài vẫn đang ở cõi Tushita. Điều này cũng giống như Đức Di Lặc đã nói trong Năm Giáo Pháp của Di Lặc, bao gồm cả trong Đại thừa Mật điển Tối thượng, nơi Ngài nói rằng tất cả những lời này là lời của các bộ luận.

 

Vì vậy, chính Đức Di Lặc đã nói rằng những lời của Ngài là của các bộ luận và không phải là lời của Đức Phật. Tương tự như vậy, Lời Nguyện này là những lời của Đức Di Lặc chứ không phải là lời của Đức Phật. Tuy nhiên, chúng được tìm thấy trong những lời dạy của Đức Phật, nằm trong Tập thứ sáu của Kinh Đại Bảo Tích (Ratnakūṭa Sutra). Đây là nguồn gốc của Lời Nguyện, nơi nó được tìm thấy và cách nó được giảng dạy, điều này là rất quan trọng.

 

Đức Phật đã dạy rằng, ở đây Bồ tát Di Lặc, đây là con đường dễ dàng để đi, là phương pháp để đạt được sự giác ngộ hoàn hảo, trọn vẹn. Vì vậy ở đây, Ngài đang nói rằng đây là một phẩm chất đặc biệt của Đức Di Lặc. Và rằng Đức Di Lặc là như vậy. Những người mà Ngài giảng điều này là ngài A Nan và những người còn lại trong chúng hội.

Bây giờ tôi sẽ nói trực tiếp về Lời Nguyện . Tôi đã nói về bối cảnh của Lời Nguyện. Có thêm một chút về bối cảnh trong Kinh điển, và điều đó rất quan trọng và tôi sẽ nói về nó khi tôi giảng tiếp.

Để giải thích về Lời Nguyện, tôi sẽ nói về các chủ đề khác nhau, tức là các dàn ý…

 

 

*HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

 

Nguyện bất kỳ công đức nào tôi đã tích lũy

Thông qua ba loại hành động

Trở thành một hạt giống cho sự toàn tri

Và sự giác ngộ vô tận.

 

Chữ "Tôi" ở đây là đang nói về ba loại hành động mà Đức Di Lặc đã thực hiện trong quá khứ. Ba loại này là công đức mang lại sự tái sinh trong cõi người, các chư thiên ở cõi dục giới và chư thiên ở cõi vô sắc giới. Đó là bố thí, trì giới, và thiền định. Đây là ba loại công đức được mô tả ở đây. Vì vậy, khi Đức Di Lặc phát khởi bồ đề tâm, điều này được tìm thấy rõ nhất trong Hiền Kiếp Kinh (Bhadrakalpikasūtra) thuộc phần Kinh tạng của bộ Kangyur.

 

*NHỮNG CÂU KỆ ĐẦU TIÊN: KÍNH LỄ VÀ ĐẢNH LỄ ĐỨC PHẬT CÙNG CHƯ THÁNH TĂNG

 

Tôi xin đảnh lễ tất cả chư Phật!

Và cũng đảnh lễ chư thánh giả với thiên nhãn,

Đảnh lễ các vị Bồ tát và

Các vị Thanh văn, Duyên giác, tôi xin đảnh lễ.

 

Trong khổ kệ đầu tiên này, Đức Di Lặc, trong phần chính của lời nguyện, bắt đầu bằng sự đảnh lễ như một cách để quy y, phát khởi Bồ đề tâm và kính lễ Đức Phật.

Đầu tiên là đảnh lễ Đức Phật, sau đó là đảnh lễ Pháp. Trước đó tôi đã tụng câu "Tôi xin đảnh lễ tất cả chư Phật". Đó là dòng đầu tiên của bản văn, sau đó từ đó đến cuối khổ kệ, đến phần đảnh lễ "các vị Thanh văn", đây là sự đảnh lễ chư Phật và Thánh Tăng.

 

"Tôi xin đảnh lễ tất cả chư Phật", nghĩa là tất cả chư Phật trong mười phương và ba thời. Đảnh lễ bằng thân, khẩu và ý trước tất cả chư Phật của quá khứ, hiện tại và tương lai. Khi chúng ta nói điều này, thật dễ hiểu, chúng ta biết đảnh lễ một vị Phật quá khứ và hiện tại nghĩa là gì. Nhưng còn việc đảnh lễ một vị Phật tương lai thì sao? Phật tương lai là gì? Theo quan điểm Đại thừa, đó là việc phát khởi Bồ đề tâm, đó là nền tảng căn bản.

 

Chúng ta đang nói rằng tôi sẽ đạt được Phật Quả hoàn toàn viên mãn vì mục đích đưa tất cả chúng sinh đến trạng thái của Phật Quả. Vì vậy, chúng ta đảm bảo rằng thân, khẩu và ý của mình sẽ không bị sử dụng sai mục đích hoặc bị lãng phí.

 

Chúng ta đang nói rằng tôi sẽ đi theo con đường của Sáu Ba-la-mật và thực hiện khát vọng rằng tôi sẽ là một vị Phật trong tương lai. Đây là Bồ đề tâm nguyện. Khi chúng ta làm điều đó, và sau đó hành động để đạt được trạng thái của Phật Quả, đây là Bồ đề tâm hạnh (hành động). Đây là chính chúng ta đang cam kết trở thành những vị Phật tương lai. Đây là khi chúng ta đã phát khởi Bồ đề tâm.

 

Ngoài ra, câu này nói rằng tôi đảnh lễ tất cả chư Phật, của kiếp này và các kiếp tương lai. Nói chung, như đã nói trong Hiền Kiếp Kinh, kinh này mô tả cách tất cả chư Phật của hiền kiếp này đã phát khởi Bồ đề tâm. Kinh đưa ra tên của cha và mẹ các Ngài, giai cấp mà các Ngài sinh ra, cách các Ngài sẽ thức tỉnh để đạt được Phật Quả hoàn hảo, có bao nhiêu chúng sinh trong chúng hội của các Ngài. Bao nhiêu người sẽ ở trong chúng hội vào lúc đầu, lúc giữa và lúc cuối. Kinh mô tả Giáo Pháp nào các Ngài sẽ dạy và các Ngài sẽ giảng dạy bao lâu và các Ngài sẽ sống bao lâu. Kinh tiên tri Giáo Pháp sẽ tồn tại trong bao lâu sau khi các Ngài đã nhập Niết bàn. Điều này cũng được mô tả trong Hiền Kiếp Kinh. Vì vậy, khi chúng ta đảnh lễ tất cả chư Phật, chúng ta đang đảnh lễ tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại và tương lai.

 

Những phẩm tính không thể nghĩ bàn của Đức Phật

s

Câu kệ “Các Bậc thánh giả với thiên nhãn”, điều này có nghĩa là các Bậc thánh giả là những vị nói năng thẳng thắn, không có bất kỳ sự lừa dối hay dối trá nào. Các Ngài nói về chân lý tương đối và bản chất của nó, chân lý tuyệt đối và bản chất của nó. Đức Phật là một bậc thánh được nhắc ở đây. Thiên nhãn ở đây có nghĩa là một trong sáu phép thần thông (lục thông). Đó là một ví dụ để chúng ta nói rằng Ngài đang hiển thị sáu phép thần thông.

 

Khi chúng ta nói về các phẩm tính và thần thông của Đức Phật thì chúng là không thể nghĩ bàn và không thể đếm xuể. Nếu chúng không phải là không thể nghĩ bàn, thì đó đâu phải là một vị Phật. Đối với những chúng sinh bình phàm như chúng ta, chúng là không thể nghĩ bàn. Nhưng đối với một vị Phật thì không phải vậy. Nếu chúng ta nói chúng là không thể nghĩ bàn, nếu chúng ta cứ nói như vậy thì chúng ta vẫn ở trong trạng thái không biết. Vì vậy, để có thể hiểu được chúng, chúng ta nói về các loại phẩm tính khác nhau của Đức Phật, chẳng hạn như sáu mươi bốn phẩm tính của sự đoạn trừ và trưởng dưỡng. Điều đó là vì lợi ích của những chúng sinh bình phàm chúng ta, những người không thể hình dung được các phẩm tính của Đức Phật.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chỉ có 64 phẩm tính này, và mười sức mạnh (thập lực) hay mười điều vô úy vân vân... Không phải là như vậy. Nhưng nếu chúng ta chỉ nói là không thể nghĩ bàn và không cố gắng để hiểu chúng, chúng ta sẽ không thể hiểu được chúng; chúng ta cần hiểu các phẩm tính của Đức Phật và có niềm tin. Khi chúng ta đang đảnh lễ Đức Phật, chúng ta cần phải có niềm tin.

 

Có ba loại niềm tin: niềm tin chân thành, niềm tin khao khát và niềm tin xác quyết. Niềm tin chân thành là điều gì đó xảy ra một cách tự nhiên do có những mối duyên nghiệp đặc biệt. Nó không xảy ra với tất cả mọi người. Nhưng có những cá nhân do các mối duyên nghiệp trong quá khứ, và gặp một vị Thầy và nghe Giáo Pháp, tâm ô nhiễm của họ tự nhiên trở nên thanh tịnh. Điều này không phải là với tất cả mọi người mà là một số ít người có mối kết nối nghiệp.

 

Đối với hầu hết các cá nhân, điều đó có thể xảy ra nhưng không kéo dài lâu, và không ổn định. Nếu bạn có mối nối kết nghiệp, có thể bạn sẽ phát triển sự chứng ngộ và giải thoát đồng thời, nhưng hầu hết chúng ta không có điều đó. Vì vậy, để phát triển niềm tin, sáu phép thần thông được liệt kê ra. Khi chúng ta nói về sáu phép thần thông như là các phẩm tính của Đức Phật, thì cũng hơi khó để nói về điều đó.

 

Câu “các Bậc thánh giả với thiên nhãn”, các Bậc thánh giả và Bồ tát ở đây là chỉ đề cập đến chư Phật và Bồ tát mà thôi. Đó là những Bậc mà chúng ta đang đảnh lễ. Sự đảnh lễ này cũng dành cho các Thanh văn. Chủ yếu khi chúng ta nói là đảnh lễ các Bậc hiền giả với thiên nhãn, chúng ta đang nói về sự đảnh lễ chư Phật, chư Bồ tát và các bậc Thánh Tăng.

 

Sáu Phép Thần Thông

 

Vì vậy, khi chúng ta nói điều này, nó đề cập đến sáu phép thần thông. Tôi sẽ đi qua từng điều một:

 

Thiên nhãn: khả năng nhìn thấy tất cả các hình tướng trên thế gian, một cách rõ ràng và không bị che chướng.

 

Thiên nhĩ: khả năng nghe được tất cả mọi âm thanh.

 

Tha tâm thông: biết được tâm của người khác, hay thần giao cách cảm. Điều này khó khăn đối với chúng ta vì chúng ta thậm chí còn không biết tâm của chính mình. Chúng ta nghĩ rằng mình biết tâm mình và tâm người khác, nhưng đó chỉ là một sự phán xét và chúng ta luôn phán xét người khác. Làm sao chúng ta có thể biết tâm người khác khi chúng ta thậm chí không biết tâm của chính mình? Phép thần thông này là biết tâm người khác chính xác như nó vốn là.

 

Túc mạng thông: biết các kiếp quá khứ.

 

Sinh tử thông: nghĩa là biết khi nào và làm thế nào bạn sẽ chết, khi nào và ở đâu bạn sẽ được sinh ra, và biết tất cả điều này rất rõ ràng và chính xác.

 

Lậu tận thông (Sự đoạn tận các ô nhiễm): Điều này có nghĩa là thông qua con đường nhận thức vô ngã, bạn có thể khắc phục tất cả những che chướng của việc bám víu vào cái tôi (chấp ngã) để chúng không bao giờ nảy sinh nữa. Sau đó nhìn thấy điều này một cách rõ ràng.

 

 

Những điều này dành cho các vị Bồ tát đang tiến gần đến Phật Quả. Chúng ta nói điều này về Đức Phật nhưng chủ yếu chúng ta đang nói về các vị Bồ tát đã đạt được các Địa/cấp độ (Bhumis).

Ngoài ra, chúng ta cũng đang nói về các vị Bồ tát có các phép thần thông nhưng chưa đạt được các Địa. Thí dụ, những vị ở bốn giai đoạn trên con đường gia hành. Những vị ở các cấp độ Noãn (hơi ấm), Nhẫn và Thế đệ nhất pháp (pháp thế gian tối thượng). Họ có một mức độ nào đó của những phép thần thông này. Họ là những Bồ tát đang tu tập.

Vì vậy theo cách này, các bậc thánh giả với thiên nhãn cũng bao gồm những cá nhân đang tiến bộ trên con đường, những bậc thánh đã đạt được các kết quả trên các cấp độ Địa, và những vị cho đến cấp độ thứ mười và sự đoạn tận các ô nhiễm cuối cùng.

 

Khi nói đảnh lễ các Thanh văn, điều này bao gồm tất cả các thừa Thanh văn thánh thiện, bốn đôi của tám quả vị. Vì vậy chúng ta đảnh lễ chư Bồ tát và Thanh văn. Điều đó có nghĩa là những vị đang nhập dòng và những vị đã đạt được các quả vị. Vì vậy khổ kệ đầu tiên là sự đảnh lễ Đức Phật và Tăng đoàn.

 

Các vị A la hán chỉ có một số phẩm tính của Đức Phật, nhưng chư Phật có tất cả các phẩm tính của A la hán và Bồ tát. Nhưng chúng ta không thể nói ngược lại. Chư Phật giống như không gian; không có điểm kết thúc và là vô tận. Vì vậy khi chúng ta chắp tay quanh khoảng không tạo thành không gian trong 2 lòng tay, chúng ta có thể nói nó có cùng phẩm tính như không gian vô tận, nhưng nó không phải là không gian vô tận, nó là khoảng không giữa hai lòng bàn tay chúng ta. Điều tương tự cũng đúng với các vị A la hán và Bồ tát, họ có các phẩm tính của Đức Phật, nhưng không phải tất cả các phẩm tính của Đức Phật. Đây là lý do tại sao chúng ta nói Đức Phật là bậc đạo sư không thể sánh bằng. Chúng ta cần hiểu các phẩm tính của Đức Phật.

 

Điều này cũng giống như nói ai đó là một học giả vĩ đại, nhưng họ lại không biết ngữ pháp. Nếu bạn không biết ngữ pháp, số học vân vân, thì làm sao có thể trở thành người uyên bác và vĩ đại được. Điều đó không thể xảy ra. Vì vậy, nếu chúng ta nói rằng Đức Phật không có các phẩm tính của các vị A la hán và Bồ tát thì điều đó sẽ là không đúng. Nhưng chúng ta có thể nói rằng các vị A la hán và Bồ tát chỉ có một số phẩm tính của chư Phật. Điều quan trọng là phải ghi nhớ điều này chứ đừng quên nó. Và bởi vì thế (nếu quên) chúng ta sẽ bỏ lỡ, hoặc lờ đi mọi việc.

 

Bây giờ chúng ta sẽ trì tụng khổ kệ đầu tiên, hãy suy nghĩ về ý nghĩa của nó khi các bạn tụng. Sau đó hãy để tâm nghỉ ngơi trong ý nghĩa đó trong thiền định khi các bạn đã tụng xong. Lý do là vì điều này dành cho việc thực hành. Đức Phật đã dạy rằng điều này rất dễ thực hành. Nó không nặng nề mà rất nhẹ nhàng. Nó không khó khăn, mà rất dễ dàng. Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau trì tụng chậm rãi, với suy nghĩ rằng tôi sẽ trì tụng những lời này giống như Bồ tát Di Lặc đã làm, tôi sẽ đảnh lễ, cầu nguyện và thực hiện những lời nguyện hệt như Đức Di Lặc đã làm.

 

 

*CHỦ ĐỀ/ NHỮNG CÂU KỆ THỨ HAI: ĐẢNH LỄ PHÁP

 

Phần này có hai phần, sự giải thích theo ý nghĩa phương tiện. Và sau đó là sự đảnh lễ được giải thích với ý nghĩa rốt ráo (quyết định).

 

1/ Giải thích về ý nghĩa phương tiện

 

Đầu tiên, ý nghĩa phương tiện, là hai dòng đầu của khổ kệ tiếp theo, nói rằng:

 

[Đảnh lễ] tới điều giúp đóng lại sự lang thang ở các cõi thấp,

Và giúp hiển lộ những cõi giới cao,

 

Khi chúng ta nói các cõi thấp/sự lang thang ở cõi thấp, đây là những cõi giới ở một nơi tồi tệ hoặc một thân xác tồi tệ, và bạn được sinh ra ở một nơi xấu do kết quả của những hành động xấu. Khi bạn sinh ra ở đó, chúng xuất hiện như những ảo ảnh và những giấc mơ. Chúng không tồn tại một cách vốn có. Nhưng đối với những chúng sinh được sinh ra ở đó, chúng xuất hiện như thể chúng thực sự tồn tại mặc dù không phải như vậy. Ba cõi giới này là súc sinh, ngạ quỷ, và các cõi địa ngục. Ba cõi này không được tạo ra bởi bất kỳ ai, như ngài Tịch Thiên (Shantideva) đã nói trong Nhập Bồ Tát Hạnh: "ai đã tạo ra những sàn nhà rực cháy và những ngọn lửa này?". Chúng không được tạo ra bởi một đấng sáng tạo; chúng là kết quả của một tâm thức xấu ác. Vì vậy, các thân thể và nơi chốn đều là kết quả của nghiệp và các ô nhiễm của chính chúng ta. Chúng ta cần hiểu điều này. Khi chúng ta nói tới điều ngăn chặn mọi con đường dẫn đến các cõi thấp, điều đó có nghĩa là chúng ta đang loại bỏ và tách mình ra khỏi sự tái sinh vào các cõi thấp.

 

Dòng thứ hai nói rằng “hiển lộ các cõi giới cao”. Vì vậy, để giải thoát bản thân khỏi khổ đau, chúng ta cần đạt được các cõi giới cao của con người, chư thiên (trời), và a tu la (bán thiên). Chúng được gọi là các cõi giới cao bởi vì chúng không có nhiều khổ đau không thể chịu đựng nổi như các cõi thấp. Chúng ta đã tịnh hóa nghiệp của mình nên có thể được tái sinh vào một nơi như vậy, và chúng được gọi là các cõi giới cao. Chúng cũng giống như những giấc mơ và ảo ảnh, nhưng chúng giống như một giấc mơ đẹp. Đó là lý do tại sao chúng là cao hơn/ở trên. Vì vậy, chúng ta đã gặp được Giáo Pháp và đã được chỉ dẫn con đường đi đến giải thoát. Đây là điều được mô tả trong chủ đề này. Đây là ý nghĩa phương tiện dẫn dắt chúng ta tái sinh vào các cõi giới cao.

 

Chúng ta có thể thấy rằng, ngay cả khi bạn được tái sinh vào một cõi giới cao hơn, bạn vẫn có thể có sự sân hận như địa ngục, hay sự keo kiệt của ngạ quỷ, hoặc sự si mê như súc sinh. Bạn vẫn có thể hành động dựa trên những điều này.

Vì vậy, bạn có thể thấy ai đó mang hình tướng con người, nhưng trải nghiệm của họ lại giống như một con vật, hay một người nào đó như trong các cõi địa ngục. Đây là điều tất cả chúng ta đều có thể thấy. Bạn không cần phải trải nghiệm nó; chúng ta có thể nhìn thấy nó. Đôi khi có những người sinh ra với thân người tốt đẹp, nhưng họ không thể để cho những phẩm chất người tốt đẹp của mình tỏa sáng. Thay vào đó, họ hành động như thể họ là súc sinh hay tệ hơn, vì vậy những phẩm chất người của họ không thể tỏa sáng và dường như chúng bị ngăn che.

 

Chúng ta có thể thấy điều này trên thế giới, thấy cách mọi người đối xử với nhau, họ thực hiện những hành động sai trái và làm hại lẫn nhau, gây cho nhau nhiều tổn hại. Họ nghĩ rằng họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc hành động theo cách đó, nhưng nhờ lòng từ bi của các bậc đạo sư tâm linh và Giáo Pháp, chúng ta biết rằng điều đó là không ổn, rằng chẳng có ích gì khi hành động như vậy. Chúng ta biết đó là sự mê lầm. Rằng điều đó là không đúng và những chúng sinh ấy không biết điều này. Vì vậy, mặc dù họ sinh ra là con người, họ không biết phải làm gì. Do đó, chúng ta cần một điều gì đó có thể dẫn dắt chúng ta đến các cõi giới cao hơn, nơi chúng ta sẽ không còn trải nghiệm những khổ đau của các cõi thấp, và đó chính là Giáo Pháp.

 

Mười sáu Phẩm tính dẫn đến tái sinh vào cõi giới cao: Mười Thiện Hạnh và Sáu Phẩm Tính

 

Để đạt được sự tái sinh vào các cõi giới cao, chúng ta cần thực hành mười sáu phẩm tính dẫn đến tái sinh trong các cõi giới cao.

 

Mười phẩm tính đầu tiên là mười thiện hạnh; điều này có nghĩa là thực hành mười điều thiện (thập thiện) và từ bỏ mười điều bất thiện. Ngoài ra, còn có sáu phẩm tính và tôi sẽ giải thích rõ ràng ngay bây giờ:

 

  1. Phẩm tính đầu tiên là từ bỏ các chất gây say như rượu, nghĩa là bất cứ thứ gì sẽ ảnh hưởng đến tâm trí bạn như ma túy, các chất gây nghiện, chẳng hạn như rượu.

 

  1. Phẩm tính thứ hai là không thực hành kế sinh nhai sai trái, nghĩa là có một kế sinh nhai đúng đắn và chân chính.

 

  1. Phẩm tính thứ ba là từ bỏ ác tâm hay ý muốn làm hại người khác, có ác ý với họ trong tâm, nói xấu hay lăng mạ họ bằng lời nói, hay thực hiện những hành động thể chất để làm hại họ. Hãy từ bỏ những điều đó.

 

  1. Phẩm tính thứ tư là có lòng từ đối với tất cả chúng sinh. Lòng từ nghĩa là mong muốn chúng sinh có được hạnh phúc và nguyên nhân của hạnh phúc. Vì vậy, giống như một người mẹ có lòng từ và tình yêu thương dành cho con mình, chúng ta cũng nên tu dưỡng để có lòng từ và tình yêu thương như vậy đối với tất cả chúng sinh.

 

  1. Phẩm tính thứ năm là tôn trọng tất cả chúng sinh. Không đối xử tệ bạc hay nói xấu hoặc nói lời cay nghiệt về họ. Có hai lý do tại sao chúng ta cần tôn trọng chúng sinh trong mọi hoàn cảnh.

 

Lý do thứ nhất là vì chúng sinh có Phật tính, mọi chúng sinh ngay cả côn trùng cũng có Phật tính, nghĩa là họ đều là những vị Phật tương lai. Tất cả họ vào một thời điểm nào đó chắc chắn sẽ đạt được Quả vị Phật, đây là bản tánh và tinh túy của tất cả chúng sinh. Vì vậy, nếu chúng ta thiếu tôn trọng họ, hoặc nói xấu họ, hay đối xử tệ với họ thì chúng ta đang thiếu tôn trọng một vị Phật tương lai, và lý do cho điều này là tất cả chúng sinh đều có tinh túy của một vị Phật, họ có Phật tính.

 

Lý do thứ hai, là nếu bạn là một người tốt, bạn không thể thiếu tôn trọng bất kỳ ai. Nếu bạn đang thiếu tôn trọng và nói xấu về họ, đây là ranh giới hay bài kiểm tra xem bạn có phải là người tốt hay không: bạn có đối xử tốt với chúng sinh hay không? Bạn có làm những điều sai trái và tồi tệ với họ hay không? Đó là cách chúng ta có thể biết mình có phải là người tốt hay không. Không ai trong chúng ta muốn trở thành người xấu, vì lý do đó chúng ta cần tôn trọng tất cả họ.

 

Vì vậy đây là điều được nói đến khi nói về việc bày tỏ sự tôn trọng đối với tất cả chúng sinh. Điều này không có nghĩa là chúng ta phải đảnh lễ tất cả mọi chúng sinh, bởi vì không phải ai cũng muốn được đảnh lễ. Nó không có nghĩa như vậy. Nó thực sự có nghĩa là một người không nên thiếu tôn trọng chúng sinh bằng thân, khẩu, hay ý của mình. Một người nên tôn trọng tất cả chúng sinh. Giống như Đức Phật đã dạy trong Kinh điển, với tăng đoàn an trú một cách xuất sắc và đúng đắn, có hòa hợp… Họ xứng đáng được chắp tay cung kính, xứng đáng được đảnh lễ, xứng đáng nhận sự cúng dường. Điều Ngài đang nói là khi bạn thấy tăng đoàn hành xử đúng đắn thì tự nhiên bạn cảm thấy có niềm tin, và họ mang lại lợi lạc về mặt tinh thần cho chúng sinh.

Nó giống như khi bạn có vàng, nếu nó ở dưới lòng đất, thì bạn không thể thấy ánh sáng của vàng. Tương tự như vậy, nếu bạn là một người tốt, thì bạn không bao giờ nên tỏ ra thiếu tôn trọng hay lăng mạ người khác vào mọi lúc. Nếu chúng ta làm điều này thì chúng ta sẽ hạnh phúc và nó cũng sẽ giúp người khác hạnh phúc. Khi chúng ta đối xử tệ với người khác, điều này thực sự che mờ khả năng của chính chúng ta và che mờ khả năng của những chúng sinh khác nữa. Vì vậy điều quan trọng đối với chúng ta là đối xử tốt với tất cả chúng sinh vào mọi lúc. Nếu chúng ta không làm vậy, những phẩm tính của chính chúng ta sẽ bị che giấu, nó sẽ không giúp ích cho chúng ta và nó cũng sẽ không giúp ích cho người khác. Nó khiến cho bạn gặp khó khăn khi làm bất cứ điều gì và người khác cũng bị khó khăn để làm bất cứ điều gì.

 

6. Phẩm tính thứ sáu là thực hành bố thí, điều này có thể là cho đi thức ăn, tiền bạc... Nói chung chúng ta muốn nói đến việc không bị quá bám víu. Với tâm của mình, chúng ta bớt sự bám víu hay cố chấp hoặc ám ảnh. Lý do cho điều này là nếu bạn có những phẩm tính, và bị bám víu vào những phẩm tính đó, rồi nếu bạn giữ chặt lấy chúng, và giữ chúng như là của riêng mình, khóa chặt chúng lại, thì cũng chẳng có lợi lạc gì cho bản thân hay cho người khác cả.

 

Vì vậy, bạn cần có khả năng sử dụng những phẩm tính, tiền bạc, hoặc đồ vật của chính mình để làm lợi lạc cho người khác. Vì thế, với bất cứ thứ gì bạn có và bạn nghĩ rằng tôi cần sử dụng chúng để mang lại lợi lạc cho người khác, thì đây là điều được gọi là một thái độ hào phóng (bố thí). Nếu bạn không có một thái độ hào phóng và giữ tất cả cho riêng mình, thì trong kiếp sau, có thể bị tái sinh thành côn trùng hoặc mọt ăn giấy, hoặc loài ngạ quỷ. Bởi vì nhân quả nghiệp báo là không thể sai lầm. Vì vậy, chúng ta luôn cần sử dụng những gì mình có để làm lợi lạc cho người khác.

Nếu chúng ta có nhiều học vấn và kiến thức, chúng ta cần sử dụng điều đó để làm lợi lạc cho người khác. Nếu bạn nghĩ rằng mình là người có học nhưng không sử dụng nó để làm lợi cho bất kỳ ai khác mà chỉ sử dụng cho bạn, thì nó không có lợi ích cho bạn hay bất kỳ ai cả. Chúng ta cần sử dụng các phẩm chất và vật chất của mình để làm lợi lạc cho người khác.

 

Giống như việc thực hành của chúng ta, nếu chúng ta có khả năng và năng lực, chúng ta cần sử dụng chúng để làm lợi lạc cho người khác. Nếu thiếu ý tưởng làm lợi ích cho người khác, thì tất cả những gì chúng ta rốt cuộc sẽ làm là sử dụng những gì mình có để bảo vệ bạn bè và đánh bại kẻ thù, và không có sự hào phóng nào ở đó. Vì vậy, chúng ta luôn cần thực hành bố thí.

 

Đây là phẩm tính cuối cùng trong sáu phẩm tính để đạt được các cõi giới cao. Vì vậy, tất cả những điều này đều được bao gồm trong câu kệ này: ‘hiển lộ con đường đến các cõi giới cao.’ Theo cách này, câu này dạy các phương pháp để có được sự tái sinh tốt đẹp và là một bài giảng về ý nghĩa phương tiện.

 

 

2/ Giải thích về ý nghĩa rốt ráo (quyết định)

 

Tôi đảnh lễ Bồ đề tâm [tâm giác ngộ]

Dẫn dắt chúng ta vượt qua sự sinh, già và chết.

 

Chủ đề thứ hai là ý nghĩa rốt ráo của việc đảnh lễ Bồ đề tâm, đó là sự chấm dứt sự tái sinh. Câu kệ nói rằng: “Tôi đảnh lễ Bồ đề tâm - điều dẫn đến sự giải thoát khỏi sinh, lão và tử.”

Bản chất của luân hồi là sinh, già, bệnh và chết. Nếu chúng ta muốn giải thoát mình khỏi luân hồi, thoát khỏi sinh và tử, chúng ta cần tịnh hóa các nhân và duyên của sinh, già và chết. Đây là Nghiệp và cội rễ của chúng là các ô nhiễm (các độc), và tất cả những điều này cần được làm tịnh hóa. Vì vậy, chúng ta cần tịnh hóa các ô nhiễm và sau khi dần dần làm điều này, chúng ta có thể tiến bộ từ từ trên con đường.

 

Trong Mật thừa, chúng ta có thể chuyển hóa nó thành mật ngọt hoặc cam lộ (amrita), có những phương pháp để chuyển hóa cái không thanh tịnh thành cái thanh tịnh. Đây là một cách để vượt qua bệnh, già và chết.

Khi chúng ta vượt qua già và chết, thì giống như một vị A la hán, chúng ta có thể đạt được Niết-bàn, và sau đó đạt được Niết-bàn vô trụ của Quả vị Phật. Sau đó, chúng ta có thể đưa tất cả chúng sinh đến trạng thái của Quả vị Phật đó.

 

Điều cho phép chúng ta làm được điều này là Bồ đề tâm. Nếu chúng ta không có Bồ đề tâm, thì chúng ta không thể đạt được trạng thái của Quả vị Phật, vì vậy chúng ta đảnh lễ Bồ đề tâm. Đây là việc đạt được sự tuyệt hảo đích thực. Chúng ta có các trạng thái cao hơn, là những trạng thái cao hơn các cõi thấp. Tuy nhiên, sự tuyệt hảo đích thực có nghĩa là trạng thái tối thượng của Quả vị Phật.

 

Nếu chúng ta không phát khởi Bồ đề tâm, làm sao chúng ta có thể trở thành một vị Phật? Không có cách nào điều đó có thể xảy ra, nó sẽ không bao giờ xảy ra. Chúng ta sẽ mãi là một chúng sinh bình phàm. Tất cả chúng ta đều có tiềm năng để trở thành Phật. Vì vậy, chúng ta cần phải làm giống như chư Phật trong quá khứ đã làm, và chư Phật trong hiện tại đã làm.

 

Vì vậy, điều cho phép chúng ta trở thành một vị Phật chính là Bồ đề tâm. Tất cả chư Phật trong quá khứ đã đạt được Quả vị Phật nhờ vào Bồ đề tâm.

Không chỉ vậy, những bậc vĩ đại ở cấp độ Bồ tát thứ mười (Thập địa) như Phổ Hiền (Samantabhadra), Kim Cương Thủ (Vajrapani) và tất cả tám vị đại trưởng tử khác, cũng như vô lượng vô biên chư Phật khác, tất cả các Ngài đều đã đạt được trạng thái đó nhờ vào Bồ đề tâm. Chính nhờ Bồ đề tâm mà chúng ta cũng có thể làm được.

 

Tóm tắt về hai sự đảnh lễ

 

Vậy là chúng ta đã đi qua hai sự đảnh lễ ở phần đầu của những lời nguyện của Đức Di Lặc. Đầu tiên là sự đảnh lễ Phật và Tăng đoàn.

Thứ hai là sự đảnh lễ Pháp. Phần đầu [của đảnh lễ Pháp] là về ý nghĩa phương tiện để đạt được sự tái sinh tốt đẹp, và ý nghĩa rốt ráo (tối thượng) là đạt được sự tuyệt hảo đích thực. Điều này có nghĩa là đạt được trạng thái của Phật Quả trọn vẹn và hoàn hảo. Nguyên nhân cho điều đó là Bồ đề tâm và vì vậy đó là sự đảnh lễ Bồ đề tâm.

 

Sẽ là rất thích hợp để nói về cách Đức Di Lặc đã phát khởi Bồ đề tâm, vì vậy tôi sẽ nói về điều đó vào ngày mai và chúng ta cũng phải đi qua toàn bộ bản văn nữa. Chúng ta hãy hồi hướng công đức để tất cả các Đạo sư và Bồ tát được trường thọ, để các hoạt động của các ngài được hưng thịnh và để tất cả chúng sinh có thể đạt được trạng thái của Phật Quả.

Bài viết liên quan