TỊNH ĐỘ TƯƠNG LAI TRÊN CÕI DIÊM PHÙ
Trích: TỊNH ĐỘ TƯ TƯỞNG LUẬN - PHÁP NGHĨA TỊNH ĐỘ PHỔ THÔNG
Nguyên tác: Hán - Anh văn
Biên dịch: Pháp Hiền Cư Sĩ
NXB Dân Trí, Công ty TNHH Xuất bản Thiện Tri Thức, 2025.
-------o0o-------
Ngoài thế giới hiện thực, riêng cầu thế giới Cực Lạc cũng tốt, nhưng sẽ xử lý như thế nào cái thế giới này đây? Không thể thuần lấy Cực Lạc Tây phương làm lý tưởng mà bỏ quên cõi đời thống khổ. Năm Đại Chánh thứ mười hai, khi Đông Kinh phát sinh trận động đất lớn, có một số nhà nghệ thuật và tiểu thuyết gia nói rằng: Đông Kinh là nơi không thể ở được, trung tâm sau này là Kinh Đô hoặc Đại Phản, Đông Kinh coi như bỏ. Thời ấy chúng tôi rất căm giận - Đông Kinh bị tổn hoại sao! Bằng phương tiện nào để chúng tôi phục hồi nó lại? Xem như bỏ nó mà đến Kinh Đô hoặc Đại Phản ư! Quả thật gian khó biết bao! Lúc ấy, tôi có cái cảm giác đồng với kẻ cầu sinh sang cõi Phật tha phương. Thế giới này là thế giới của áp bức, vì thế nên kết thúc nhanh thôi để vãng sinh Tịnh Độ cho rồi, cái gì của Cesar trả lại cho Cesar, nhẫn tâm đến thế sao! Như thế không thể không cách nào xử lý nỗi thúc bách của thế giới Diêm Phù này sao?. Và, tôi nghĩ, yêu cầu thúc bách đó chính là quan niệm cõi thống khổ này là Tịnh Độ của tương lai. Quan niệm ấy chính là cõi Tịnh Độ tương lai của thời Di Lặc; tín ngưỡng Tịnh Độ có hai loại: một là cõi Đâu Xuất mà đức Di Lặc hiện trụ, vẫn đang giảng Pháp, sau khi chết chúng ta sẽ sinh về đây - Tịnh Độ Đâu Xuất - nói chung, tức là Di Lặc Tịnh Độ. Ở Ấn Độ, tín ngưỡng ấy là quan niệm Tịnh Độ vãng sinh một thời thịnh hành, ngay cả Trung Hoa và Nhật Bản. Loại thứ hai là Phật Di Lặc xuất hiện thế gian có sự hiệp trợ của Luân Vương Tương Khử (?) Thế giới hiện thực được Ngài tịnh hóa bằng hai phương diện: tâm thức (tinh thần) và văn hóa. Hơn thế, ở Ấn Độ từ xưa đến giờ có biết bao Thánh giả, nhập định chờ Di Lặc ra đời, kể cả Nhật Bản, ít ra, đại sư Hàm Tín Hoằng Pháp ở Cao Dã Sơn, hiện đang nhập định, các Ngài sẽ tái hiện ở trần gian khi đức Di Lặc đản sinh. Lập trường của tôi ở điểm này, có một ý nghĩa rất sâu, chính là tín ngưỡng Phật Di Lặc tương lai, và, không phải là đối tượng trọng tâm vãng sinh về cõi nước của Ngài như phạm trù thứ nhất đã đề ra - mà là Di Lặc của sự tịnh hóa thế gian. Theo thông lệ, thời kỳ xuất hiện của Ngài, sau năm mươi sáu ức vạn năm. Tóm lại, sự việc cần lý giải là cái sức mạnh vĩnh viễn đó của Ngài, sức mạnh đó cải tạo thế gian thành Tịnh Độ, chính là tín ngưỡng Phật Di Lặc đương lai, theo tôi ý nghĩa đó bao quát sự kiến thiết thế giới tốt đẹp hơn và cả yêu cầu giải thoát, có thể cầu nơi cõi Tịnh Độ Di Lặc ấy niềm hy vọng lớn trong dung hội. Tịnh Độ chân chính là quy chiếu tinh thần của Phật Đà trong mọi phương diện, vì vậy, không chỉ là sở hữu cảnh giới tâm thức (tinh thần) đơn thuần, mà ngay cả vật chất, tinh thần ấy cũng cần thực hiện như thật. Có một số người trong chúng ta than phiền về việc xuống cấp của đời sống tinh thần hiện nay, mà chú nguyện cho sự tiến bộ của văn minh vật chất, điều đó vẫn không phải là kiến giải chính xác. Chú nguyện chỉ có thể thông qua sự biểu hiện của vật chất - hoặc hiện tượng thực hữu, mới hoàn thành, rời bỏ vật chất hoặc hiện tượng thực hữu để tự cô lập, quả thật, không phải là cái chân thật. Nếu cho rằng vật chất là vật chất, tinh thần là tinh thần thì văn hóa ấy không phải là văn hóa kiện toàn. Nhưng vì hiện tại quá trọng văn minh vật chất, văn minh tinh thần nằm ở nghĩa thứ hai, quên mất đi sự tự do của đời sống tinh thần, do đó, văn minh tinh thần bị chúng ta tẩy chay, nhường chỗ cho vật chất vạn năng lên ngôi báu. Thế nhưng học thuyết quá cực đoan này nói rằng: đây cũng là văn minh vật chất, đó cũng là văn minh vật chất, thế thì cầu nguyện cho văn minh vật chất cũng cho là sai lầm. Nói tía lia như két, hoặc đèn điện rực rỡ ngoài kia, cả hai cũng đều là sản vật của văn minh vật chất, đèn điện nếu được thay bằng đèn cầy (nến) cũng là văn minh vật chất, hoặc dẹp hết cả hai thứ ánh sáng đó, dưới trăng đàm đạo, quan niệm đó, quả nhiên có thể gọi là văn minh tinh thần triệt để được sao? Văn minh tinh thần và từ tinh thần hóa vật chất, mới thật sự là triệt để hoàn toàn. Kiến giải bằng căn bản này để nhìn hành tướng của Tịnh Độ Phật giáo, Tịnh Độ của Quán Chiếu chẳng cần chờ lâu, Tịnh Độ trong cách trình bày, ít ra, tinh thần viên mãn không chỉ đích thị là tinh thần, chỗ hoàn bị của lý tưởng cũng không chỉ đích thị là vật chất. Như Kinh Tạng thuyết minh: "Đất làm bằng lưu ly, đường đi phân lối bởi chỉ vàng, cây bảy báu thường trổ hoa tạp sắc", Pháp ngữ của bất cứ bộ Kinh nào khi xiển dương Tịnh Độ cũng đều có. Nghĩa là tư cách (phẩm cách) của Tịnh Độ, ngoài tính hoàn bị của văn hóa đạo đức, mà ngay cả thiết bị văn minh cũng là một cõi nước hoàn thiện, nghĩa đó không thể nghi. Vả lại, vì kiến thiết Tịnh Độ như thật ấy, không thể chỉ chủ trì bằng tâm, quán chiếu Tịnh Độ chủ trì do tâm mà tạo dựng tuy là chuyện khó đấy, nhưng tóm lại, đó là thuộc về cảnh giới chủ quan mà chủ quan thì có thể dễ dàng nói. Thế nhưng, ngay cả đến thực hiện hoàn bị thế giới vật chất như thật, thì phải trải qua những ngày tháng tương đối lâu xa, từng bước tất yếu kiến tạo. Chẳng hạn, năm Đại Chánh thứ mười hai, Đông Kinh hư hoại vì động đất, cảnh tàn rụi của nó khó phục hồi phát triển, đòi hỏi bao năm công phu, vì vậy không thể không sử dụng tha lực vĩnh viễn làm lý tưởng tối hậu nhằm kiến thiết Tịnh Độ thật sự ở thế gian này. Sau năm mươi sáu ức vạn năm của thời kỳ tương lai, Phật Di Lặc giáng sinh ở trần gian, nơi đây đã thành lý tưởng Tịnh Độ, ý nghĩa đó thật là minh bạch. Như Kinh miêu tả: thế giới mà đức Di Lặc thực hiện, đường đi bằng phẳng như gương, ngôn ngữ thống nhất sử dụng cho tất cả, toàn thế giới chỉ một loại ngôn ngữ, không có Đức ngữ, Nhật ngữ, Anh ngữ v.v... như hiện tại, toàn thế giới là anh em ruột thịt, bạn bè, cùng một tâm duy nhất, không như quê hương lý tưởng của những địa ngục bây giờ. Đó chính là lý tưởng Tịnh Độ. Đường xá ở Đông Kinh tồi tệ nhất trong mọi đường xá trên thế giới, nhưng dần dần cũng Âu Châu hóa lên xe hơi đến trước điện Minh Trị Thần Cung. Chúng ta có cảm tưởng như đi qua thành phố Paris, khiến tôi liên tưởng đến con đường của thời Di Lặc. Quan sát ở khía cạnh vật chất, văn minh thời cận đại gần giống với Tịnh Độ Di Lặc. Giả dụ thời đó, núi với núi đều nhau, biển và lục địa tương tiếp, cả hai là dự ngôn cho tàu hỏa và ghe thuyền; thống nhất ngôn ngữ là dự ngôn của thế giới ngữ (Esperanto), khi đại tiện và tiểu tiện xong, mặt đất khép lại, tựa hồ như chương trình nhà xí Âu Châu hiện đại. Do chỉ còn cái ác tạm thời đi nghịch lại tôn giáo đạo đức, sở dĩ có tình trạng như vậy vì tính cách ưu việt của nền văn minh cận đại, rời xa lý tưởng Tịnh Độ, ở điểm này không nên chờ đợi đến năm mươi ức vạn năm sau. Tóm lại, theo lịch sử, thời kỳ lý tưởng Di Lặc đản sinh so với quán chiếu Tịnh Độ và quan niệm Tịnh Độ Di-Đà có rất sớm mang lại cho ta biết bao yếu tố nhưng đã không được thực thi triệt để, cũng do thực tế đó, có biết bao điểm để ta nghiền ngẫm. Có thể thực hiện chính tại thế gian này bằng cái nương nhờ tối hậu đó. Tịnh Độ Di Lặc, theo quan điểm của tôi, nó bao hàm sự kỳ vọng rất lớn vì tính chất văn hóa và đạo đức của nó. Còn một điểm nữa, vấn đề toàn diện của Phật giáo là giải thoát sinh tử, chúng ta cần phải khảo sát tư duy như thế nào? Lý tưởng vĩ đại của Phật giáo là vấn đề ấy, nếu mọi thứ cần phải chờ đến sự thực hiện Tịnh Độ mãi đến năm mươi sáu ức vạn năm sau của đức Di Lặc, thì trong khoảng thời gian này, vấn đề sinh tử phải xử lý làm sao? Đối với điều đó, tôi thích nắm luôn niệm nguyện kiến thiết Di Lặc Tịnh Độ, và từ trong phẩm chất đó ra, tôi không mong gì nữa. Nam Mộc Chánh Thành nói rằng: "Sống chết qua bảy lần để tiêu diệt kẻ thù", bảy hay tám lần tử sinh không phải là chuyện của chúng ta. Cái tất yếu là kiến tạo Tịnh Độ Di Lặc thay cho vô số lần sinh tử, Phật giáo phán dạy tử sinh là khổ, vì tử sinh là chúng nghiệp bám lôi, tức cái bản thân kéo bám mạnh mẽ này, chính là khổ, bất cứ trạng thái đen đủi nào cũng không thể so sánh nổi với nó. Ngày nay cáo biệt hội hè, ngày mai hoan hô đoàn nhóm, rồi kéo lôi chè chén say sưa, bức bách quả là vậy. Thế nhưng tự đoạn lìa, rời bỏ, dẫu cho khổ thế nào cũng không là khổ. Đứa con trưởng của tôi rất thích núi Alpus, liên tục ba năm đến đó leo trèo, nhưng bao lần đều bị gió mưa cản trở, thế nhưng nói chẳng bao giờ bỏ cuộc. Nếu sự cản trở đó là do tôi, hẳn nó sẽ nói rằng: tất cả tại ba rầy, ngăn trở. Nó sẽ vô cùng khổ đau và oán hận người cha độc ác này. Luân hồi cũng như vậy, do nghiệp gắn liền với thân mệnh của ta, giành giật kéo lôi vào sinh tử luân hồi, đó là thống khổ. Nếu như luân hồi mà tự nguyện kiến thiết Tịnh Độ, thì chẳng thể là thống khổ, chắc chắn là hy vọng, là hoạt động tự phát huy hoàng, là tác dụng của giải thoát. Như chí nguyện của Nam Công, bảy lần sinh lại, để tiêu diệt kẻ thù, chúng ta mạnh bước trong vô cùng sinh tử ấy, thúc đẩy cho Tịnh Độ Di Lặc hiện ra, cống hiến tất cả cho Tịnh Độ đó. Như vậy, bản thân của tử sinh là hoạt dụng của con đường Bồ Tát, điều ấy được mệnh danh là nguyện sinh luân hồi hoặc bất trụ Niết Bàn. Nếu có cơ may trong đời được vãng sinh Cực Lạc thế giới; ở đó tu tập hạnh nguyện, trở lại thế gian, lấy đó làm phạm trù kiến thiết Di Lặc Tịnh Độ, hơn thế cùng vui sách tấn mọi người. Tóm lại, giải thoát không ngoài hành vi ý chí tự do của bản thân, không thể do ai thúc ép, vì thế sinh tử tức là giải thoát, là Niết Bàn.
---o0o---
Ảnh: internet.


