AN ĐỊNH CỦA KHO BÁU QUANG MINH

Trích: SỐNG BỞI LỜI NGUYỆN

Tác giả: SHOHAKU OKUMURA

Người dịch: Bảo Nguyên Chí Thành

NXB Thái Hà

Tuy nghèo, nhưng chưa từng nghèo. Tuy bệnh, nhưng chưa từng bệnh. Tuy già, nhưng chưa từng già. Tuy chết, nhưng chưa từng chết. Thực tại trước mọi phân chia. Trong đây, thẳm sâu vô hạn. Quang minh là một ẩn dụ, một biểu tượng cho đời sống của đức Phật. Lão sư Uchiyama sống nghèo, và chưa từng làm việc chỉ để kiếm tiền. Lão sư đối chiếu những cặp nhị nguyên − sống và chết,...
AN ĐỊNH CỦA KHO BÁU QUANG MINH

Tuy nghèo, nhưng chưa từng nghèo.

Tuy bệnh, nhưng chưa từng bệnh.

Tuy già, nhưng chưa từng già.

Tuy chết, nhưng chưa từng chết.

Thực tại trước mọi phân chia. Trong đây, thẳm sâu vô hạn.

Quang minh là một ẩn dụ, một biểu tượng cho đời sống của đức Phật. Lão sư Uchiyama sống nghèo, và chưa từng làm việc chỉ để kiếm tiền. Lão sư đối chiếu những cặp nhị nguyên − sống và chết, nghèo và giàu, bệnh và khỏe − với chiều sâu vô hạn của thực tại trước mọi phân chia. Pháp tu của chúng ta là đào sâu sự hiểu biết và trải nghiệm. Đây chính là điều chúng ta thực hành trong tọa thiền, bằng cách buông bỏ mọi tư duy. Thực hành tọa thiền chính là thực hành Bát Nhã Ba La Mật, giúp chúng ta thật sự chuyển hóa lối sống của mình.

Nếu đời sống của ta được đặt nền trên những nhị nguyên như tốt và xấu, thì ta sẽ chạy theo điều tốt và trốn tránh điều xấu. Ta sẽ bận tâm về việc mình có tốt hay không. Nếu nghĩ mình là người tốt, thì thấy đời sống đáng sống. Nếu nghĩ mình là người xấu, thì cho rằng đời sống chỉ là một sai lầm. Lối suy nghĩ nhị nguyên này làm cho đời sống của ta trở nên cứng nhắc và chật hẹp.

Bất kể đã phạm phải lỗi lầm gì, ta vẫn có thể bắt đầu lại, bởi vì mọi pháp đều vô thường. Ta có thể thay đổi. Ta có thể đổi hướng đời sống của mình. Đó chính là con đường để ta chuyển hóa đời sống, tư duy, và kiến giải của mình. Theo lời Thiền sư Đạo Nguyên, ngồi tọa thiền và buông bỏ tất cả chính là chìa khóa để chuyển đổi nền tảng của đời sống. Khi ngồi và buông bỏ, ta trở nên tự do, ngay cả khỏi giáo pháp của đức Phật. Ta không mê, cũng không ngộ. Vì vậy, ta chỉ tiếp tục tu tập. Đó chính là ý nghĩa của shikantaza, hay “chỉ ngồi.” Nếu cảm thấy an lạc hay giác ngộ trong một số hoàn cảnh nào đó, rồi bám chặt vào kinh nghiệm ấy, thì tức là ta đã mê lầm. Ta đã bắt đầu chệch hướng, dừng lại ngay trong “giác ngộ” của mình. Cho nên, ta mở bàn tay buông xả và tiếp tục tu tập. Đây chính là ý nghĩa của “chỉ ngồi,” của sự tu tập liên tục. Không có ai là mê hay ngộ. Chính việc ngồi đó đã là giác ngộ. Đây là lý do Thiền sư Đạo Nguyên dạy rằng ta cần khởi bồ đề tâm, từng khoảnh khắc, hàng tỷ lần.

TÁNH KHÔNG TRONG SỰ TU TẬP

“Này Xá Lợi Phất, mọi pháp đều là Không;

Không sinh cũng không diệt,

Không dơ cũng không sạch,

Không tăng cũng không giảm.”

Đoạn kinh này đã được bàn luận ở trên trong mối liên hệ với lời dạy của ngài Long Thọ trong Trung Quán Luận. Nó không chỉ đến một điều gì đó ở bên ngoài chúng ta, mà là cách chúng ta nhìn sự vật, cách chúng ta nắm bắt sự vật bằng trí năng. Ngài Long Thọ dạy rằng lối nhìn và suy nghĩ thông thường của chúng ta dựa trên những tâm hành hay những cấu trúc tư tưởng mà ngài gọi là những cuộc tranh luận vô nghĩa. Đây là một điểm then chốt trong triết học Đại thừa, và rất khó để hiểu thấu. Tôi sẽ bàn về điều này từ kinh nghiệm của chính mình.

Từ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đến ngài Long Thọ, đến Thiền sư Đạo Nguyên, chư vị đều chỉ bày thực tại của đời sống chúng ta, chân tướng của tất cả chúng sanh. Vấn đề là khi ta nghĩ về thực tại này, khi ta cố nắm bắt nó, thì ta lại đánh mất nó. Chúng ta đang sống trong thực tại. Ta chưa từng rời xa nó, và thế nhưng hầu như lúc nào ta cũng đánh mất cái thấy về nó. Khi muốn bàn luận về một điều gì, ta buộc phải đứng từ một quan điểm nhất định. Và đó chính là chỗ vấn đề phát sinh.

Ngày xưa tôi từng đọc một quyển sách về logic, trong đó có nhiều nghịch lý nổi tiếng. Một trong những câu chuyện thú vị nhất là về một vị vua ra lệnh cho thuộc hạ rằng không được để bất kỳ kẻ nói dối nào bước vào vương quốc. Nhà vua dựng một chốt kiểm soát ở biên giới. Người lính gác hỏi tất cả những ai muốn vào nước rằng họ là kẻ nói dối hay người thành thật. Vì ai cũng muốn vào, nên tất cả đều nói mình không phải là kẻ nói dối, ngoại trừ một người thừa nhận: “Tôi là kẻ nói dối.” Người lính gác không biết phải làm sao. Nếu người này thật sự là kẻ nói dối, thì lời ông ta nói là thật; nghĩa là ông ta đang nói thật và do đó không phải là kẻ nói dối. Nếu ông ta không phải là kẻ nói dối, thì lời ông ta nói là sai, điều đó có nghĩa ông ta là kẻ nói dối. Dù xét theo cách nào cũng không thể đưa ra kết luận. Lối suy nghĩ thông thường của chúng ta cũng chứa một nghịch lý tương tự. Nó vốn không thật sự phù hợp với thực tại, nên ta thường đưa ra những quyết định sai lầm.

Câu chuyện này là một ví dụ về tánh Không. Trước khi quyết định ai là kẻ nói dối hay người thành thật, ta phải định nghĩa các thuật ngữ này. Kẻ nói dối là người nói dối, tất nhiên, nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Kẻ nói dối là người luôn luôn nói dối, và người thành thật là người luôn luôn nói thật. Đây là định nghĩa cơ bản của kẻ nói dối và người thành thật. Khi sử dụng những định nghĩa này, ta phải nhất quán. Kẻ nói dối thì luôn nói dối. Nếu một kẻ nói dối nói thật, thì từ “kẻ nói dối” không còn áp dụng được nữa.

Nhưng thực tế, không có ai luôn luôn nói dối. Ta nói dối để lừa người khác, nhưng nếu chỉ toàn nói dối thì không thể lừa được ai. Nếu ai đó luôn luôn nói dối, tôi sẽ biết rằng điều ngược lại với lời họ nói mới là sự thật. Thực ra, cũng không có ai thành thật đến mức chưa từng nói một lời dối trá. Khi ta nghĩ ai đó lập dị, ta thường không nói: “Anh thật lập dị.” Ta có thể nói: “Anh thật độc đáo.” Không ai chỉ toàn nói dối, cũng không ai chỉ toàn nói thật.

Trong thực tại, không có kẻ nói dối và cũng không có người hoàn toàn thành thật. Suy nghĩ dựa trên những định nghĩa như vậy là một ví dụ của tâm hành tạo tác, hay những cuộc tranh luận vô nghĩa. Lối suy nghĩ ấy bỏ lỡ thực tế rằng tất cả chúng ta đều nói dối ở một mức độ nào đó. Và dẫu vậy, vẫn có những người rất thành thật, và cũng có những kẻ nói dối. Là người học Phật, chúng ta phải cố gắng tránh nói dối, vì đó là một trong các giới luật. Nếu ta giải thích giới “không nói dối” bằng một lối lý luận tuyệt đối khắt khe, thì ta sẽ không thể là Phật tử. Chúng ta không bao giờ có thể hoàn toàn giữ trọn giới của đức Phật. Vì vậy, ta phải quán chiếu sâu vào thực tại. Đây không phải là vấn đề thuần túy của logic, mà là của thái độ sống. Đây là cách sống của ta, là chân lý của đức Phật, và là chân tướng của con người.

Trong Phật pháp, chân tướng của vạn pháp, thực tại của đời sống chúng ta, không dựa trên thứ logic đơn giản. Trí tuệ thấy được tánh Không chính là thấy cả hai mặt. Không có kẻ nói dối và cũng không có người hoàn toàn thành thật, nhưng ta vẫn cố gắng tránh nói dối. Có hai mặt, và thấy được cả hai chính là Bát nhã.

Tư tưởng, giá trị, và thái độ của ta được hình thành từ công việc, học vấn, và kinh nghiệm. Ta phải có một “thước đo” nào đó để sống trong xã hội. Nhưng “thước đo” này không phải là tuyệt đối. Tôi sinh ra ở Nhật Bản và lớn lên trong xã hội Nhật Bản, nên không thể hoàn toàn thoát khỏi cách nghĩ và cách sống của người Nhật. Tôi không cho rằng mình phải trở thành người Mỹ, hay bạn phải trở thành người Nhật. Chúng ta cần hiểu rằng không có cách nghĩ của người Mỹ hay cách nghĩ của người Nhật nào là hoàn toàn đúng. Còn một cách khác để suy nghĩ, để hành xử, để đánh giá sự vật. Đó là con đường buông bỏ mọi tư duy.

Đây chính là điều chúng ta thực hành trong tọa thiền. Chúng ta trở nên linh hoạt. Ta phải buông bỏ những sự đánh giá và phân biệt của mình, nếu không thì sẽ không thể thật sự kết nối với những người thuộc truyền thống hay văn hóa khác. Ngày xưa, các nền văn hóa tách biệt và không gặp gỡ nhau hằng ngày. Thế giới hiện đại của chúng ta đang dần trở thành một xã hội chung. Ở Hoa Kỳ, có rất nhiều người thuộc nhiều chủng loại khác nhau cùng chung sống.

Nếu ta bám chặt vào “thước đo” của mình và phủ nhận cách làm của người khác, chúng ta sẽ tranh chấp. Ta sẽ cảm thấy cần phải loại bỏ những ai không đồng ý với mình. Nhưng khi buông bỏ lối suy nghĩ của mình và thoát khỏi “thước đo” ấy dù chỉ một chút, ta sẽ có khoảng trống để chấp nhận những cách nghĩ khác.

Đời sống của ta trở nên rộng mở hơn và phong phú hơn.

Hoa Kỳ là quốc gia nước ngoài duy nhất mà tôi đã từng sống cho đến nay. Nhật Bản và Hoa Kỳ đều là những đất nước đặc biệt đối với tôi. Quan niệm của tôi về nước Mỹ đã thay đổi nhiều lần. Tôi sinh ra ba năm sau Thế chiến thứ hai. Ký ức đầu tiên của tôi về nước Mỹ là khi tôi khoảng bốn hoặc năm tuổi và được nghe rằng gia đình tôi đã mất hết tài sản khi quân Mỹ ném bom Osaka vào tháng Ba năm 1945. Gia đình tôi đã sống ở trung tâm Osaka suốt ba trăm năm, và đã tích lũy được một số của cải. Chỉ trong một đêm, chúng tôi mất tất cả.

Tôi nhớ thứ duy nhất còn lại sau trận ném bom là một pho tượng Phật − khá lớn so với một gia đình cư sĩ để có thể sở hữu. Tôi nghe nói gia đình tôi có một điện thờ để an trí pho tượng này. Tôi chưa từng thấy nó, nhưng hẳn đó phải là một tòa nhà lớn. Tôi cũng biết rằng chú tôi đã hy sinh trong chiến tranh. Trong tâm trí tôi, những ký ức ấy đã tạo nên sự phẫn nộ, oán hận và sợ hãi.

Ở tiểu học, tôi nghe nói rằng Nhật Bản khi ấy rất nghèo và chỉ sống sót nhờ sự giúp đỡ từ Hoa Kỳ. Nước Mỹ là một quốc gia rất thịnh vượng, trong khi đất nước chúng tôi thì vô cùng nghèo khó. Nước Mỹ dường như là thiên đường, và chúng tôi hy vọng sẽ noi theo con đường của Mỹ. Từ đó, tôi có hai cái nhìn hoàn toàn khác nhau, gần như đối lập về nước Mỹ. Nước Mỹ trở thành điều gì đó rất tích cực, là thứ chúng tôi phải học hỏi như một lý tưởng về dân chủ, khoa học, kỹ thuật, và nền văn hóa tiêu dùng vật chất.

Thế hệ của tôi đã học hỏi lối sống, phương thức sản xuất và hệ thống giá trị của Mỹ. Nhật Bản trở nên quá “Mỹ,” thậm chí có lúc gần như “Mỹ” hơn cả nước Mỹ. Khi tôi còn là học sinh trung học, vào thời chiến tranh Việt Nam, truyền thông đại chúng Nhật Bản đã trình bày chủ nghĩa đế quốc Mỹ như là kẻ thù của nhân loại. Đây lại là một quan niệm hoàn toàn khác nữa.

Sau này, khi học lịch sử, tôi biết rằng quân đội Nhật Bản đã làm nhiều điều tàn ác ở Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, và các nước châu Á khác trong Thế chiến thứ hai. Sự hiểu biết của tôi được đào sâu hơn. Sự phẫn nộ, oán hận và sợ hãi đã chuyển thành một nỗi buồn về thân phận con người. Tất cả mọi người đều có chung những vấn đề ấy. Mỹ, Nhật, mọi quốc gia, và từng cá nhân đều có khả năng làm những việc tồi tệ. Thấy được sự vật từ nhiều quan điểm khác nhau là điều tốt.

Cuối cùng, tôi đến Mỹ sinh sống vào năm 1975. Tôi sống ở Massachusetts khoảng năm năm và trải nghiệm lối sống Mỹ. Tôi nhận ra rằng ở đây cũng có nhiều người tốt bụng và cũng có những người không mấy tốt bụng, giống như ở Nhật Bản. Con người mỉm cười, cười thành tiếng, khóc, và la hét theo cùng một cách ở cả Nhật lẫn Mỹ. Tôi nghĩ không có sự khác biệt lớn.

Để đào sâu sự hiểu biết, chúng ta phải phủ định những khái niệm của mình. Khi phủ định niềm tin và những định kiến sẵn có, ta có thể thấy sự vật từ những góc nhìn khác hoặc một viễn cảnh rộng hơn. Ta nên cố gắng tránh nắm giữ mọi thứ bằng những định kiến hay thiên kiến đã hình thành sẵn. Nếu mở bàn tay và quán sát sự vật một cách cẩn thận, gần gũi, ta có thể thấy được những góc nhìn khác. Đây chính là “mở bàn tay của tư tưởng.” Và đây chính là điều chúng ta thực hành trong tọa thiền.

Pháp hành buông bỏ tư tưởng giúp chúng ta nhìn người và sự vật bằng đôi mắt mới mẻ. Ngay lúc này, bên ngoài có rất nhiều hoa. Khi nhìn chúng, ta nghĩ rằng chúng đẹp. Nhưng khi ngắm kỹ một bông hoa, ta thấy nó không chỉ đẹp, mà thật sự nhiệm mầu. Vì sao bông hoa này lại đẹp như vậy? Vì sao nó lại nở ra như thế này? Vì sao ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp ấy? Sự ngạc nhiên sinh khởi khi ta gặp gỡ sự vật bằng đôi mắt mới.

Khi nhìn hoa mà không khởi niệm “Hoa này đẹp” hay “Hoa này tên gì?”, ta thật sự gặp gỡ chính bông hoa. Khi nhìn hoa mà không khởi tư tưởng, ta nhận ra rằng đời sống này − thân và tâm này − cùng với sự sống của bông hoa chính là một sự sống. Không hề có sự phân chia. Ta có thể nói: “Tôi đang nở kia như một bông hoa.”

Dập tắt các kiến giải của mình, buông bỏ tư tưởng, hay phủ định cách nghĩ của bản thân, không phải là điều tiêu cực. Ngược lại, nó khiến đời sống của ta trở nên sinh động và đầy sức sống.

Trở lại với đoạn kinh:

“Này Xá Lợi Phất, vạn pháp đều mang tướng Không;

Không sinh cũng không diệt,

Không dơ cũng không sạch,

Không tăng cũng không giảm.”

Nếu đọc điều này một cách hời hợt, chúng ta có thể nghĩ rằng pháp bằng cách nào đó vượt ngoài sinh và diệt, vượt ngoài nhiễm ô và thanh tịnh, hay tăng và giảm. Chúng ta có thể cho rằng có một cái gì vô tướng vượt ngoài hiện tượng. Nhưng đoạn kinh này không nên được hiểu theo cách ấy. Ví dụ, cái giá sách này đã được làm ra trong quá khứ bởi ai đó dùng những mảnh gỗ, và hôm nay nó tồn tại như một cái giá sách. Một ngày nào đó nó sẽ gãy và biến mất. Đây là một hình tướng theo thời gian, một hiện tượng. Khi chúng ta nghe “vì vạn pháp đều mang tướng Không, nên chúng không sinh cũng không diệt,” chúng ta có thể tưởng rằng có một “cái gì đó” vượt ngoài hiện tượng, trong trường hợp này là cái giá sách.

Chúng ta có thể tin rằng cái gì đó này là bản thể, vốn không sinh cũng không diệt, một cái gì thường hằng. Chúng ta tưởng tượng rằng cái vượt ngoài hình tướng ấy chính là chân tánh của hiện tượng tạm bợ này, và rằng thấy được chân tánh Không đó tức là giác ngộ. Nói cách khác, chúng ta nghĩ rằng Không tách rời với Sắc. Đây không phải là ý của Bát Nhã Tâm Kinh.

Không chỉ đơn giản là cách mà Sắc là như vậy. Cái giá sách này chính là Không. Chúng ta không nên tìm cầu Không ở ngoài cái giá sách cụ thể này.

“Không dơ cũng không sạch, không tăng cũng không giảm” nên được hiểu theo cùng một cách. Cái giá sách này không dơ cũng không sạch. Chúng ta không nên nghĩ rằng có một cái gì không dơ cũng không sạch tồn tại vượt ngoài cái giá sách này. Một số người cho rằng giác ngộ là thấy và hòa làm một với một cái gì vô tướng và thường hằng vượt ngoài những sự vật cụ thể vốn có hình tướng và vô thường. Nhưng Bát Nhã Tâm Kinh nói, “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.” Chúng ta không nên tìm cầu Không ở ngoài Sắc. Không có cái gì vượt ngoài hiện tượng. Hiện tượng tức là Không.

Trong “Hiện Thành Công Án,” Thiền sư Đạo Nguyên nói, “Đem tự ngã hướng về vạn pháp để thực hành-giác ngộ là mê. Vạn pháp đến và thực hành-giác ngộ qua tự ngã là ngộ.” Mê và ngộ tùy thuộc vào mối quan hệ giữa chính mình và các chúng sinh khác. Chúng ta không thể nói rằng con người cá biệt này là giác ngộ hay mê lầm, bởi vì không có con người nào tồn tại ngoài mối quan hệ với người khác. Thực hành-giác ngộ không phải là một kinh nghiệm huyền bí nào đó. Nó rõ ràng và hiển nhiên như thực tại hằng ngày.

“Hiện Thành Công Án” tiếp tục, “Khi Chánh pháp chưa thấm nhập trọn vẹn vào thân tâm, ta nghĩ rằng ta đã đầy đủ. Khi Chánh pháp tràn đầy thân tâm, ta lại nghĩ rằng vẫn còn thiếu thốn.” Khi chúng ta chưa được Chánh pháp lấp đầy hoàn toàn, chúng ta chấp thủ cái ngã của mình như là trung tâm của thế giới. Chúng ta nghĩ cái ngã này là một con người tuyệt đối có thể thấy sự vật một cách khách quan và hiểu chúng như chúng thực sự là. Niềm tin này chiếm giữ một phần hiện hữu của chúng ta, nên Chánh pháp không thể thấm nhập trọn vẹn vào thân tâm này. Vì vậy, chúng ta phải buông xả chính mình. Rồi Chánh pháp thấm nhuần chúng ta và bắt đầu làm đầy chính Chánh pháp.

Khi Chánh pháp tràn ngập hoàn toàn thân tâm này, chúng ta lại cảm thấy vẫn còn thiếu thốn. Cách tư duy của chúng ta, thước đo của chúng ta, vốn không trọn vẹn hay tuyệt đối, nên chúng ta cảm thấy bất toàn. Chúng ta tìm kiếm sâu hơn. Đây chính là Bát nhã, là thoát khỏi thước đo của chính mình và thấy sự vật từ một cái nhìn rộng hơn hay sâu hơn. Đây là trí tuệ thấy được tánh Không. Không có gì chúng ta có thể nắm giữ, không có gì chúng ta có thể chấp thủ. Chúng ta mở rộng tâm mình.

Thiền sư Đạo Nguyên đã dùng một ví dụ: “Ví như khi chúng ta dong thuyền ra biển, vượt khỏi tầm thấy đất liền, và đôi mắt ta quét nhìn [chân trời ở] bốn phương, thì nó chỉ đơn giản hiện ra như một vòng tròn. Không có hình dạng nào khác xuất hiện. Thế nhưng, biển cả mênh mông này vốn chẳng phải tròn cũng chẳng phải vuông. Nó có những đặc tính vô tận. [Đối với một con cá] thì trông như cung điện; [đối với một vị trời] thì như chuỗi anh lạc. [Đối với chúng ta] thì trong tầm mắt nhìn, nó hiện ra như một vòng tròn. Vạn pháp cũng như thế. Trong cõi trần lao và cả vượt ngoài, có vô lượng tướng trạng; chúng ta chỉ thấy và nắm bắt được đến mức độ mà con mắt học đạo và hành đạo của ta có thể thấy. Khi chúng ta lắng nghe thực tại của vạn pháp, chúng ta phải biết rằng nơi biển và non đều có những đặc tính vô tận, và còn có nhiều thế giới khác trong bốn phương.”

Biển cả không chỉ đơn giản là tròn. Nó có nhiều đặc tính và tướng trạng khác nữa. Trong Phật giáo có nói rằng chư thiên thấy nước như châu báu. Có nhiều cách để nhìn nhận một sự vật. Biển cả chỉ là một ví dụ của vô số pháp mà chúng ta gặp trong đời sống. Tất cả con người và sự vật đều tồn tại theo những cách khác ngoài cách mà chúng ta thấy. Cụm từ Thiền sư Đạo Nguyên dùng là san gaku gen riki, nghĩa là năng lực của cái thấy thông qua Giới Định Tuệ. Chúng ta phát triển khả năng thấy sự vật một cách rõ ràng, cận kề, và sâu thẳm qua sự thực hành buông bỏ ý niệm. Trong văn của Thiền sư Đạo Nguyên, tu tập có nghĩa là tọa thiền.

Đây là một sự diễn bày rất cụ thể về tánh Không trong sự tu tập của chúng ta. Theo Thiền sư Đạo Nguyên, sự tu tập tọa thiền của chúng ta chính là sự thực hành Bát nhã thấy được tánh Không. Không nghĩa là không thể nắm bắt. Chúng ta mở bàn tay ra và thấy sự vật từ những góc nhìn khác bằng cách buông bỏ những chuẩn mực cá nhân của chính mình. Các vị Bồ Tát Đại thừa, những người đã viết các bộ Kinh Bát Nhã Ba La Mật, xem Tâm Kinh là một bộ kinh chuyển hóa tự thân. Đây là con đường chúng ta chuyển hóa chính mình, chuyển hóa lối sống của mình, khiến ta trở nên uyển chuyển và thấy sự vật mà không chấp thủ. Đó không chỉ là trí tuệ hay tuệ giác đơn thuần, mà là một pháp hành. Pháp hành dưới hình thức tọa thiền chính là nền tảng của đời sống chúng ta.

Nhưng bởi vì chúng ta không thể ngồi thiền hai mươi bốn giờ một ngày, chúng ta phải học cách đối diện với tất cả sự vật trong đời sống hằng ngày. Chúng ta phải học về tự ngã, về thân và tâm của chính mình. Chúng ta phải tu tập cùng với người khác. Sống và tu tập cùng với tất cả chúng sinh chính là hạnh Bồ Tát. Sự tu tập này làm phong phú đời sống của chúng ta.

---o0o---

Ảnh nguồn internet

Bài viết liên quan