VƯỢT QUA NHỮNG CHƯỚNG NGẠI VÀ MA QUỶ - TULKU URGYEN RINPOCHE - AS IT IS

VƯỢT QUA NHỮNG CHƯỚNG NGẠI VÀ MA QUỶ

Tác giả: TULKU URGYEN RINPOCHE

Trích từ nguyên tác AS IT IS (những bài pháp trong 2 năm cuối cùng 1994, 1995)

Nguyên Chân chuyển dịch Việt ngữ @2026

Thuật ngữ ‘thế lực chướng ngại’ mô tả những thứ sẽ không từ bỏ quyền kiểm soát đối với các khu vực của mandala, và có thể đánh cắp đi những thành tựu, lén lút lấy đi các lễ vật cúng dường và can thiệp vào bằng đủ mọi cách thức khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế, các thế lực gây chướng ngại không gì khác hơn là tư tưởng khái niệm. Các thế lực gây chướng ngại khởi...
VƯỢT QUA NHỮNG CHƯỚNG NGẠI VÀ MA QUỶ - TULKU URGYEN RINPOCHE - AS IT IS

Chắc chắn có những chướng ngại, và nói chung có ba loại: bên ngoài, bên trong, và ẩn mật. Những chướng ngại bên ngoài là sự mất cân bằng trong các nguyên tố bên ngoài (là tứ đại), biểu hiện thành các thảm họa tự nhiên như động đất, lũ lụt, hỏa hoạn và bão tố. Những điều này tạo ra rất nhiều khó khăn rõ ràng cho các chúng sinh.

Những chướng ngại bên trong là sự mất cân bằng trong các nadi, pranabindu—các kinh mạch, khí (năng lượng) và minh điểm (tinh chất), còn được gọi là các kinh mạch cấu trúc, các luồng khí chuyển động và các tinh chất được sắp xếp. Chúng có thể bị xáo trộn theo nhiều cách khác nhau. Các kinh mạch có thể bị co thắt, các luồng khí hay năng lượng có thể bị đảo ngược và di chuyển sai hướng, hoặc các tinh chất có thể bị rối loạn. 'Tinh chất' ở đây chủ yếu có nghĩa là các tinh chất trắng và đỏ nhận được từ cha và mẹ. Ba yếu tố này đóng vai trò như bản thiết kế, cấu trúc cơ bản, cho cơ thể con người. Khi chúng bị mất cân bằng, chúng ta cảm thấy rằng thân xác huyễn hóa của mình bị bệnh. Tất nhiên, có một số phương thuốc nhất định mà chúng ta có thể sử dụng để chữa trị những sự mất cân bằng như vậy.

Tuy nhiên, đáng kể nhất là những chướng ngại ẩn mật, liên quan đến việc bám chấp vào người nhận thức và cái được nhận thức (chủ thể và đối tượng). Về cơ bản, điều này ám chỉ đến thói quen kinh nghiệm nhị nguyên của chúng ta, điều này bị gây ra bởi sự thiếu ổn định trong trạng thái nền tảng nguyên thủy của tính rõ biết-trống không. Khi tánh rõ biết-trống không này không tự ổn định, sự biểu hiện của nó sẽ là phóng ra ngoài và bám chấp vào năm đối tượng của kinh nghiệm—năm đối tượng của giác quan. Chúng là những gì được nhận thức. Người nhận thức chính là cái tâm bám chấp vào chúng.

 

Mặc dù trạng thái nền tảng nguyên thủy này của tánh giác tự hiện hữu hoàn toàn không có tính nhị nguyên, nhưng do việc bám chấp vào kinh nghiệm như là một cái gì đó khác biệt, tính nhị nguyên có vẻ như đang diễn ra. Tính nhị nguyên ‘có vẻ như’ này sau đó được tiếp tục. Sự kéo dài liên tục của kinh nghiệm nhị nguyên này chính xác là những gì đặc trưng cho tâm của tất cả chúng sinh. Tâm của chúng sinh bị mắc kẹt trong việc bám chấp vào người nhận thức và cái được nhận thức. Đây chính là cốt lõi của sự tồn tại luân hồi, và tự thân điều này là chướng ngại trong sâu xa nhất của chúng ta.

Không ai nằm ngoài các chướng ngại. Tất cả chúng ta đều bị tổn thương và chịu thương tổn lặp đi lặp lại bởi ba cấp độ chướng ngại này. Những chướng ngại bên ngoài, những tai họa của bốn nguyên tố, có thể được giải quyết bằng cách di chuyển đến một nơi khác hoặc thực hiện các thực hành nhất định để xoa dịu hoặc bình ổn các thế lực của các nguyên tố.

Chướng ngại bên trong của sự mất cân bằng trong thân kim cương, trong các kinh mạch, khí, và minh điểm, biểu hiện ra bằng bệnh tật thể chất cũng như nhiều cách khác. Bạn có thể uống thuốc để điều trị những điều này, cũng như thực hiện các bài tập yoga để kiểm soát, điều khiển và làm chủ sự chuyển động của các luồng khí trong các kinh mạch và sự an vị của các minh điểm. Những thực hành như vậy chủ yếu thuộc về Mahayoga và Anu Yoga, nhưng cũng có một số khía cạnh liên quan đến điều này trong Ati Yoga (Đại Toàn Thiện).

 

Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất là làm thế nào để vượt qua chướng ngại ẩn mật của kinh nghiệm nhị nguyên, thói quen bám víu vào người nhận thức và cái được nhận thức. Cách duy nhất để chinh phục tính nhị nguyên đó là không để cho “sự biểu hiện” đi lạc thành cái tâm nhị nguyên - cái nắm bắt tính nhị nguyên ở nơi mà tính nhị nguyên không hề tồn tại. Có câu nói rằng, “Chừng nào tính nhị nguyên chưa trở thành nhất thể, chừng đó không có sự giác ngộ.” Do đó, chúng ta cần phải ghi nhận trạng thái phi nhị nguyên của rangjung, tánh giác tự hiện hữu, cái vốn là trạng thái nguyên thủy của chúng ta. Sau khi ghi nhận nó, chúng ta cần tu tập trong đó và trở nên ổn định. Chỉ thông qua sự duy trì ổn định như vậy, chúng ta mới có thể hoàn toàn chiến thắng mọi chướng ngại.

 

Có một cách khác để mô tả các chướng ngại: bốn loại ma. Bất kể chúng được gọi là gì, cách duy nhất để xua tan mọi chướng ngại là thông qua việc làm chủ tánh giác tự hiện hữu. Nếu chúng ta làm được điều này, chúng ta không thể bị làm hại bởi bất kỳ chướng ngại nào, cho dù chúng là bên ngoài, bên trong, hay ẩn mật. Đầu tiên chúng ta cần nhận biết; tiếp theo, tu tập trong sự nhận biết đó; và cuối cùng, đạt được sự ổn định. Không có phương pháp nào tốt hơn thế.

 

Những chướng ngại chính cho samadhi (Tam Muội) được gọi là hôn trầm và trạo cử. Trạng thái bổn nguyên của chúng ta có hai phương diện, tánh Khôngsự rõ biết, về cơ bản vốn dĩ là bất khả phân. Khi có sự tập trung hơi nhiều hơn vào phẩm tính trống không, sự hôn trầm có thể kéo đến. Khi có quá nhiều sự nhấn mạnh vào phương diện rõ biết, sự trạo cử sẽ xuất hiện. Nhưng khi có sự ổn định trong tánh giác tự hiện hữu, người ta không trở thành nạn nhân của cả hôn trầm lẫn trạo cử. Chúng hoàn toàn không có bất kỳ sự ảnh hưởng nào đối với trạng thái tâm đó. Trở nên ổn định trong tánh giác tự hiện hữu là cách để đối phó với hôn trầm và trạo cử.

 

Về bốn loại ma: tất cả những ai chưa giác ngộ đều nằm trong sự chi phối của bốn loại ma. Chúng là ma của tử thần (Tử ma), ma của những cảm xúc phiền não (Phiền não ma), ma của các uẩn (Uẩn ma) thực chất là ám chỉ thân thể vật lý của chúng ta, và ma của con trai các vị thần (Thiên tử ma).

Ma của tử thần có nghĩa là mọi người đều phải chịu sự chi phối của cái chết, điều tất nhiên làm gián đoạn sự thực hành của họ. Ma của các uẩn ám chỉ đến thân thể vật lý. Ngay khi bạn sinh ra, bạn đã bị nhốt trong thứ vật chất này được gọi là cơ thể con người và phải chịu những sự thay đổi của nó; đó là một loại ma. Ma của những cảm xúc phiền não là bị vướng vào những cảm xúc phiền não, như tất cả chúng sinh hữu tình vẫn vậy.

Loại vi tế nhất, và khó khăn nhất, là ma của con trai các vị thần, đó là ma quỷ của sự cám dỗ. Nó là giọng nói nhỏ nhẹ thì thầm với chính mình và đưa ra lời khuyên sai lầm: “Có thứ gì đó thú vị hơn là việc thực hành. Tại sao không làm điều đó sau, như tháng sau hoặc năm sau—khi đó bạn thực sự có thể bước vào thực hành chuyên chú. Ngay bây giờ, có một việc khác quan trọng hơn.” Đó là tiếng nói của Thiên tử ma. Cho đến nay nó là loại khó nhận ra nhất, khó vượt qua nhất.

 

Khi đạt được thân cầu vồng, như Đức Liên Hoa Sanh (Padmasambhava) và đại thành tựu giả Vimalamitra đã làm vậy, bạn vượt qua được ma của các uẩn. Bằng cách trở nên ổn định trong tinh túy tâm, bạn vượt qua được ma của những cảm xúc phiền não. Chỉ bằng cách đạt được sự ổn định hoàn toàn thông qua việc nhận biết và tu tập trong tinh túy tâm thì một người mới có thể được coi là đã hoàn toàn chiến thắng được bốn loại ma. Nếu không thì chúng sinh hữu tình không được tự do. Họ bị đánh bại hết lần này đến lần khác, họ chắc chắn nằm dưới quyền lực của bốn loại ma.

 

Tánh giác tự hiện hữu (rangjung yeshe) có thể được minh họa bằng cách sử dụng hình ảnh của bầu trời và ánh sáng mặt trời, vốn là không thể phân ly vào ban ngày. Chúng thường được sử dụng như những ẩn dụ cho không gian căn bản và sự tỉnh biết nguyên thủy. Tất cả chư Phật và chư Bồ tát đều ổn định trong sự hợp nhất này, và do đó không phải chịu bất kỳ cấp độ chướng ngại nào. Những vấn đề của chúng ta với tư cách là chúng sinh hữu tình bắt đầu từ việc không biết được bản tánh chân thực của chính mình. Giống như khi mặt trời tạm thời lặn, và trời trở nên tối đen như mực; chúng ta không thể thấy gì cả, chúng ta không biết gì cả. Đây là bức tranh về sự vô minh của chính chúng ta, về việc không biết bản tánh của chính mình. Sự vô minh như vậy là mắt xích đầu tiên trong chuỗi mười hai nhân duyên.

Vô minh là thứ tạo ra luân hồi. Nếu chúng ta nhận biết tánh giác tự hiện hữu, chúng ta sẽ cắt đứt tận gốc rễ mười hai nhân duyên và luân hồi, và sẽ không còn sự vô minh. Trong trường hợp của chư Phật và chư Bồ tát, sự vô minh đã được dọn sạch ngay từ căn bản. Những gì đã xảy ra với chúng ta là chúng ta đã không nhận biết, và mười hai nhân duyên cùng với luân hồi đã diễn ra.

 

Sự khác biệt cơ bản giữa luân hồi (samsara) và niết bàn (nirvana) nằm ở giữa việc biết và không biết. Biết là trí huệ tánh giác, không biết là lang thang trong luân hồi bất tận. Có hai lựa chọn: hoặc là biết bản tánh này là gì, tức trí huệ tánh giác; hoặc là không biết, tức vô minh. Chứ không phải là có hai bản tánh nền tảng khác nhau.

Sự không biết hay vô minh hình thành nên mắt xích đầu tiên của mười hai nhân duyên, dựa trên đó mà những mắt xích tiếp theo nương tựa và được hỗ trợ. Do vô minh, nên có hành. Do hành, nên có thức nhị nguyên, cái là nhân duyên hợp tác để tái sinh vào tử cung, hình thành nên sáu căn và các uẩn của ‘danh và sắc’. Việc thọ sinh thúc đẩy người ta rơi vào sự bám chấp (thủ), khao khát (ái) và trở thành (hữu), đó là chưa kể đến một sự tái sinh mới, già, bệnh và chết. Nó cứ tiếp diễn mãi không ngừng. Trục của bánh xe này chính là sự vô minh. Nếu bạn muốn đổ lỗi cho một con quỷ chính yếu cho toàn bộ luân hồi, thì hãy đổ lỗi cho sự vô minh, sự thiếu hiểu biết.

 

Cách duy nhất để giải quyết vấn đề của sự tồn tại luân hồi là làm tan biến vô minh vào nền tảng bổn nguyên. Điều này được thực hiện thông qua việc đơn giản là nhận biết trạng thái tự nhiên của tâm và không duy trì thói quen bám chấp nhị nguyên; bằng cách chỉ đơn giản để yên (letting be) trong tánh tự nhiên, không chấp nhận hay chối bỏ. Đó là điều giúp vượt qua mọi chướng ngại. Việc nhận biết tánh giác tự hiện hữu quý báu này giống như mặt trời xua tan mọi bóng tối. Nó là một cái gì đó rất gần gũi; giống như đường ranh giới giữa ánh sáng và bóng tối, thực sự không cách xa nhau là mấy. Điều giúp vượt qua mọi chướng ngại chính là việc nhận biết tánh giác tự hiện hữu.

 

Việc duy trì tính tương tục của tánh giác bất nhị sẽ dọn sạch sự vô minh căn bản. Không có vô minh vào khoảnh khoắc đó, và do đó không có hành, không có thức nhị nguyên, không có danh và sắc, không có sáu căn, không có thủ, ái, hữu, bệnh tật, già yếu và cái chết, v.v. Điều này có được là nhờ nhận biết tinh túy tâm của chúng ta, tánh giác rigpa, tức tánh giác tự hiện hữu đã được vị đạo sư của bạn chỉ thẳng. Đó chính là ba thân nội tại trong tâm chúng ta. Bản tánh của tâm chúng ta là trống không trong tinh túy và rõ biết trong bản tính, và hai điều này là bất khả phân. Việc thấy được điều đó và duy trì tính tương tục của nó chính là cái dọn sạch sự vô minh căn bản.

 

Chúng ta nên nhận biết điều này và duy trì khuôn mặt tự nhiên của sự nhận biết này. Điều này không có nghĩa là người ta cố tình duy trì một trạng thái – cái gọi là trạng thái tự nhiên. ‘Duy trì khuôn mặt tự nhiên’ có nghĩa là cho phép tính tương tục của nó diễn ra mà không có một cái gì đó được duy trì hay một ai đó để duy trì nó. Nó không giống như việc suy nghĩ, “Ồ, bây giờ tôi đã nắm được nó; đây là những gì tôi nên giữ lại, và đây là những gì tôi nên tránh né. Tôi sẽ không làm điều này, nhưng tôi sẽ làm điều kia.”

Việc luân phiên giữa chấp nhận và chối bỏ như một thực hành thiền định không phải là cách để dọn sạch sự tồn tại luân hồi. Ngược lại, nó chính là mắt xích của hành, mắt xích thứ hai trong mười hai nhân duyên. Mỗi khái niệm đều hình thành nên nền móng cho trạng thái tâm nhị nguyên, và điều đó tạo thêm luân hồi sinh tử. Việc dọn sạch vô minh căn bản không gì khác hơn là đơn giản nhận biếtđể yên—thấy được tính rõ biết-trống không, cái vốn là một sự thống nhất bất khả phân. Đó được gọi là làm tan biến vô minh vào không gian căn bản, và là cách để vượt qua mọi chướng ngại.

 

Một cách khác để xem xét điều này liên quan đến các thế lực chướng ngại, những kẻ tạo ra chướng ngại cho hành giả. Trước tiên, xin hãy hiểu rằng các thế lực gây chướng ngại thực ra không gì khác hơn chính là những tư tưởng của chúng ta, khởi sinh từ chính tâm của chúng ta. Thuật ngữ ‘thế lực chướng ngại’ mô tả những thứ sẽ không từ bỏ quyền kiểm soát đối với các khu vực của mandala, và có thể đánh cắp đi những thành tựu, lén lút lấy đi các lễ vật cúng dường và can thiệp vào bằng đủ mọi cách thức khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế, các thế lực gây chướng ngại không gì khác hơn là tư tưởng khái niệm. Các thế lực gây chướng ngại khởi sinh từ chính tâm của bạn.

Khi năm đối tượng bên ngoài của tâm thức bị nắm bắt bởi cái tâm bám chấp bên trong, cộng với sự dính mắc vào năm nhận thức của giác quan—đây chính là tư tưởng khái niệm. Đó là hành động khái niệm hóa các đối tượng, nắm bắt một đối tượng là ‘cái đó’ và hình thành những ý tưởng về nó như là hấp dẫn, đáng ghét, hay trung lập (thờ ơ). Những kẻ gây chướng ngại này, hay những chuyển động của tư tưởng làm che khuất trạng thái giác ngộ hoàn hảo, bắt nguồn từ chính chúng ta, chứ không từ bất kỳ nơi nào khác.

 

Những thái độ tiêu cực của ba độc biểu hiện thành ba ác linh cơ bản: ác linh nam hay sự sân giận, ác linh nữ hay sự tham luyến, và ác linh phi giới tính hay sự ngu si (khép kín tâm trí). Đoàn tùy tùng những kẻ đi theo chúng bao gồm tổng cộng 84.000 loại thế lực gây chướng ngại, ma quỷ và ác linh, những kẻ gây ra đủ mọi rắc rối, tạo ra sự tàn phá và thảm họa theo nhiều cách khác nhau. Là những sự biểu hiện của chính tâm chúng ta, những điều này có thể được cô đọng lại thành ba độc. Tóm lại, việc khái niệm hóa chủ thể và đối tượng như là tính nhị nguyên chính là sự cản trở hay kẻ gây chướng ngại cơ bản. Từ ‘kẻ gây chướng ngại’ có nghĩa là cái tạo ra sự cản trở cho việc chứng ngộ trạng thái giác ngộ.

 

Phù hợp với những giáo lý từ bi của Mật chú thừa, người ta trao cho kẻ gây chướng ngại này món quà của một [torma] (Rinpoche cười). Để giải quyết những loại thế lực chướng ngại khác nhau này, thực hành sadhana trước tiên nhẹ nhàng dâng cho chúng một món quà, một torma. Torma này được trao cho kẻ gây chướng ngại, cho chính tư tưởng khái niệm của chúng ta. Người ta quán tưởng một torma rất đẹp đẽ phát ra âm nhạc ngọt ngào và hương thơm đáng yêu thích, có hương vị ngon lành và kết cấu hoàn hảo, v.v., khởi sinh từ tánh Không. Từ trạng thái của tánh Không, người ta tưởng tượng torma xuất hiện như được ban cho đầy đủ tiềm năng, sức mạnh, màu sắc, mùi, vị và kết cấu làm nảy sinh tất cả năm loại khoái lạc của giác quan. Người ta thánh hóa torma bằng [các chủng tự] ram, yam, khamom ah hung. Tiếp theo, người ta triệu tập các thế lực chướng ngại bằng một câu thần chú nhất định, dâng torma, và yêu cầu chúng rời đi.

 

Cách thứ hai bao gồm một cách tiếp cận mang tính ra lệnh bằng một câu chú, ý nghĩa cốt yếu của nó là: “Hãy lấy torma này và rời đi, nếu không các ngươi sẽ cảm nhận được sức nóng của các heruka.” Cách thứ ba, một phương pháp phẫn nộ hơn, bao gồm việc người ta trục xuất các kẻ gây chướng ngại một cách phẫn nộ bằng cách hóa hiện ra nhiều heruka nhỏ bé. Trong khi tụng một câu thần chú cụ thể, bạn tưởng tượng hóa hiện ra vô số heruka giống như một cơn bão khủng khiếp, thổi bay tất cả các thế lực chướng ngại như thể chúng là một đống tro tàn bị phân tán bởi một cơn gió mạnh. Bất lực, chúng bay đi đến tận cùng của vũ trụ.

 

Hãy nhớ rằng, ma quỷ thực sự chính là tư tưởng khái niệm của chúng ta. Rơi vào sự khái niệm hóa chính là ma quỷ. Bằng cách nhận biết tinh túy tâm của mình, tất cả ma quỷ đều bị đánh bại; bốn loại ma bị tiêu diệt và mọi chướng ngại đều bị loại bỏ. Điểm chính yếu là tu tập trong sự nhận biết đó. Điểm quan trọng nhất trong toàn bộ luân hồi và niết bàn là gặp gỡ tinh túy tâm. Tâm đã bị rơi và cuốn vào tư tưởng, tuy nhiên tự tánh của tư tưởng là trí huệ, sự tỉnh biết nguyên thủy. Không có gì quan trọng hơn để biết ngoài điều này. Hãy biết điều gì là gần gũi nhất.

Để lặp lại những gì tôi đã nói vô số lần, sự khác biệt giữa chúng sinh và chư Phật là sự biết và không biết. Chúng ta được vị đạo sư của mình giới thiệu vào tánh giác rigpa. Khi nhìn và không thấy một vật gì, đó là tinh túy của tâm. Tại điểm này, 84.000 loại tư tưởng bị cắt đứt.

 

#

HỌC TRÒ: Còn về hy vọng thì sao? Con hiểu vấn đề về sự sợ hãi, nhưng dường như vẫn còn một loại hy vọng vi tế nào đó về sự thức tỉnh. Điều đó có nhất thiết là một vấn đề không?

RINPOCHE: Trong khoảnh khắc nhận biết tánh giác tự hiện hữu, có gì để tập trung vào chứ—liệu có thứ gì khác sao? Bạn cần phải để cho cả hy vọng và sợ hãi sụp đổ. Theo định nghĩa, hy vọng ngụ ý một điều gì đó bạn cần phải chấp nhận và nắm lấy, trong khi sợ hãi ngụ ý một điều gì đó cần phải tránh né hoặc thoát khỏi. Tuy nhiên, cái thấy là phải thoát khỏi cả thứ để đạt được và thứ để tránh né. Không gian cơ bản của bản tánh chúng ta từ nguyên thủy vốn là một tính tỏ biết-trống không bất khả phân, cái vốn đã là Phật pháp thân Phổ Hiền cùng với phối ngẫu. Tại sao người ta lại phải hy vọng vào một vị Phật nào khác ngoài điều đó? Khoảnh khắc của sự nhận biết, của tánh giác rigpa, là đủ. Khi nói rằng cái thấy tối hậu có nghĩa là thoát khỏi sự chấp nhận và chối bỏ, điều đó có nghĩa là không có thêm một vị bổn tôn nào khác để thành tựu trong khoảnh khắc nhận biết bản tánh của chính mình. Không có thêm một trạng thái giác ngộ nào khác để đạt được. Vào khoảnh khắc đó, không có sức mạnh nào có thể gây ra sự tái sinh tiếp tục trong sáu cõi luân hồi.

 

HỌC TRÒ: Thầy có thể giải thích thêm tại sao loài Thiên tử ma lại là loại khó khăn nhất không?

RINPOCHE: Thứ lừa phỉnh hay cám dỗ chúng ta, chính là suy nghĩ của chính chúng ta. Hầu như tất cả mọi người đều bị con ma đó cuốn đi. Tất nhiên chúng ta cũng nằm dưới quyền lực của Uẩn ma, trừ khi chúng ta không có một thân thể. Có thể khá khó để đối phó với những loại ma này, nhưng rồi lại có lẽ không quá khó. Chỉ đơn giản là không làm bất cứ điều gì với sự tỉnh biết hiện tiền này. Khi đó, ma vương sẽ không thể thò đầu ra khỏi sự tỉnh biết đó, bởi vì điều đó là không thể. Hãy duy trì sự tỉnh biết hiện tiền một cách sống động, hoàn toàn tỉnh thức, và để nó tự nhiên như nó là. Thế là đủ.

Không có gì thêm để tìm kiếm từ bên trong điều đó. Nếu chúng ta nghĩ rằng có một điều gì đó khác ngoài điều đó để đạt được trong trạng thái thức của mình, thì sự mong đợi như vậy chỉ là một gông cùm trói buộc chúng ta lại.

 

Chúng ta thường bị trói buộc trong mạng lưới của tư tưởng quá khứ, tư tưởng tương lai, tư tưởng của hiện tại. Hãy buông bỏ cả ba điều đó. Đây chính là sự tỉnh biết hiện tiền sống động. ‘Sống động’ ở đây có nghĩa là trong suốt, mở trống rộng khắp, không bị che khuất—giống như pha lê. Khao khát một trạng thái siêu việt nào đó cao hơn sự tỉnh biết hiện tiền này chỉ đơn giản là đang tự lừa dối chính mình. Sự tỉnh biết hiện tiền không tạo tác hay không bị biến đổi này chính là Phật Phổ Hiền chân thật, cái mà chưa bao giờ tách rời khỏi bạn dù chỉ một khoảnh khắc.

Trong khi nhận biết, hãy để nó an trụ trong tánh tự nhiên. Nếu bạn nhận biết nó, bạn là Phật; nếu không, bạn là một chúng sinh hữu tình. Nó rất đơn giản, rất rõ ràng, giống như đường ranh giới giữa ánh sáng và bóng tối. Bạn không thể tách rời một khu vực được chiếu sáng và một khu vực bị che bóng khỏi nhau, chúng quá gần gũi. Nó giống như mặt trước và mặt sau của chính bàn tay bạn. Chư Phật và chúng sinh hữu tình chỉ cách nhau chừng đó thôi. (Rinpoche đưa bàn tay của ngài ra). Trong thực tế nó là như thế này: đây là mặt trước, đây là mặt sau. Chúng có vẻ tách biệt với nhau, nhưng thực ra chúng rất gần gũi.

 

Cách để chắc chắn trong điều này là nhận biết. Hoàn toàn không có vật gì để thấy cả, đúng không?. Nhận biết tinh túy tâm không phải là thấy bất cứ điều gì khác ngoài cái đó. Một khi bạn đạt đến mức không bị xao lãng khỏi điều đó trong suốt cả ngày lẫn đêm, bạn đã xứng đáng với danh hiệu Phật. Nếu bạn có thể duy trì sự không xao lãng trong một giờ, bạn đã là một A-la-hán. Nếu bạn ổn định trong trạng thái đó thì không có gì phải sợ hãi về cái chết, bởi vì trung ấm (bardo) chỉ là sự tiếp nối của trạng thái này.

 

Các bậc đạo sư Kagyü thời xưa thường nói: “Cái chết không thực sự là cái chết; đối với một yogi, cái chết là một sự giác ngộ nhỏ.” Điều đó có nghĩa là bản thân tâm không phải là một thứ gì đó có thể chết. Cái chết chỉ đơn thuần là sự rơi rụng của ngôi nhà trọ tạm thời là thân xác. Một người bình thường sẽ rơi vào trạng thái bất tỉnh vào khoảnh khắc cái chết, nhưng một hành giả nhận biết được trạng thái của tánh giác rigpa thì không hề bất tỉnh. Nếu trong trạng thái trung ấm (bardo), một sự nhận biết về tánh giác rigpa xảy ra, thì đúng như tôi đã nói trước đây: chỉ trong khoảng thời gian cần thiết để vẫy ống tay áo dài của người Tây Tạng ba lần, bạn nhận biết, tu tập trọn vẹn và đạt được sự ổn định. Điều đó là không thể khi chúng ta còn sống bởi vì chúng ta đang ở trong một thân xác vật lý. Nó giống như một con chim bị trói buộc bởi một sợi xích; nó không thể bay.

Chúng ta cần tu tập trong tánh giác bất nhị ngay bây giờ. Không có gì khác có thể làm chấm dứt suy nghĩ của chúng ta, và nếu suy nghĩ không chấm dứt, thì luân hồi cũng vậy—nó cứ thế tiếp diễn. Luân hồi cần suy nghĩ của chúng ta để tự duy trì, bởi vì chỉ có những tư tưởng của chính chúng ta mới có thể giữ cho luân hồi sống sót. Hoàn toàn không có gì khác.

 

Một khi bạn nhận biết được bản tánh này, bạn có thể ngả lưng vào một chiếc ghế hay chiếc giường êm ái và hoàn toàn thư giãn. Ba cõi luân hồi có thể bị đảo lộn và các địa ngục mở ra bên dưới bạn, và thậm chí không một sợi lông nào trên cơ thể bạn sẽ động đậy vì sợ hãi. Cho đến thời điểm đó, không có sự tự tin thực sự nào khi còn đang ở trong sự tồn tại của luân hồi. Mọi thứ lụi tàn qua từng khoảnh khắc. Mọi thứ đều thay đổi—các mùa, cơ thể—không có gì tồn tại mãi mãi. Cơ thể chúng ta đang thay đổi giống như kim đồng hồ, từng giây một. Thế giới bên ngoài và các chúng sinh bên trong đó thay đổi mọi lúc, từng khoảnh khắc một. Không có gì mãi mãi giữ nguyên như cũ.

Tuy nhiên, tinh túy của chúng ta thì không thay đổi; nó là khuôn mặt tự nhiên bất biến của tánh giác. Tất cả chư Phật đều nhìn thấy nỗi đau của sự thay đổi vi tế này, được gọi là ‘nỗi khổ trùm khắp của sự bị điều kiện hóa’. Tuy nhiên, các chúng sinh hữu tình không thực sự chú ý đến nỗi đau của sự vô thường vi tế này. Bạn có thể nói rằng các yogi hoặc chư Phật rất nhạy cảm với nỗi đau này, giống như chúng ta nhăn mặt khi có một sợi lông mi rơi vào mắt. Mặt khác, đối với những chúng sinh phàm tình, nỗi đau là không thể nhận thấy được, giống như một sợi lông mi được đặt trên lòng bàn tay. Họ không biết rằng việc bị điều kiện hóa này thực sự là đau khổ, vì vậy họ không chú ý đến nỗi đau khởi sinh từ sự thật rằng từ khoảnh khắc này cho đến khi chúng ta trút hơi thở cuối cùng, chúng ta luôn thay đổi liên tục.

 

 

HỌC TRÒ: Tại sao chúng ta lại dễ dàng bị cuốn đi như vậy?

RINPOCHE: Bởi vì chúng ta không an trú ổn định trong tánh giác, nên chúng ta bắt đầu đi lang thang trong một dòng suy nghĩ. Tất cả chúng sinh đều làm điều này. Việc không ổn định trong tinh túy của chính mình là một thói quen vô cùng mạnh mẽ được phát triển qua vô số kiếp sống quá khứ. Sự xao lãng bao gồm việc trí huệ tánh giác bị lấn át bởi vô minh, cái biết bị lấn át bởi cái không biết. Sự không biết này có hai phương diện: vô minh đồng khởi (bẩm sinh) và vô minh khái niệm hóa. Nếu hai phương diện này được tịnh hóa, chúng ta sẽ là chư Phật. Nhưng chừng nào các phương diện vô minh đồng khởi và vô minh khái niệm hóa này chưa được tịnh hóa, chúng ta vẫn là những chúng sinh hữu tình

 

Vô minh đồng khởi (innate ignorance) chỉ đơn giản là sự quên lãng. Vô minh khái niệm hóa (conceptual ignorance) xuất hiện ngay trong khoảnh khắc sau khi quên lãng, khi chúng ta bắt đầu suy nghĩ, hình thành hết tư tưởng này đến tư tưởng khác. Khi một tư tưởng nối tiếp một tư tưởng khác, một chuỗi tư tưởng dài có thể phát triển. Những vô minh đồng khởi và khái niệm hóa này tạo thành ranh giới ban đầu giữa chư Phật và chúng sinh. Chúng là những gì tạo nên sự khác biệt giữa sự mê lầm và không mê lầm. Thuật ngữ tiếng Tây Tạng cho sự giác ngộ được dịch là ‘sự hoàn thiện được tịnh hóa’ hay ‘được dọn sạch và hoàn thiện’. Chính sự vô minh mới là thứ cần được dọn sạch. Các phẩm tính của trí huệ không cần phải được hoàn thiện; chúng vốn đã được hoàn thiện rồi. Tuy nhiên, sự vô minh thì giống như những đám mây che phủ bầu trời. Chúng ta cần để cho những đám mây mê lầm tự nhiên tan biến vào không gian căn bản.

 

Vì chúng ta vẫn chưa đạt được giác ngộ, tại sao luân hồi lại không khó khăn chứ? Đây là một sự khó khăn mà tất cả mọi người đều chia sẻ. Chúng ta cần tu tập một cách từ từ và đều đặn, không chỉ trong một vài tháng. Nếu nhiệm vụ này dễ dàng, tất cả chúng sinh đã đạt được giác ngộ từ lâu rồi. Nó thật sự khó khăn; sự vô minh này chính là cái thực sự đang gây ra những khoảng thời gian khốn đốn cho chúng sinh. Tất cả chúng sinh đều bị chi phối bởi hai loại vô minh này.

Đây là một câu nói rất quan trọng: “Bạn càng cố gắng, khuôn mặt tự nhiên của bạn càng bị che khuất. Bạn càng buông xả, khuôn mặt tự nhiên của bạn càng trở nên sáng tỏ.” Bất kỳ nỗ lực tinh thần nào cũng đều là tâm nhị nguyên. Tâm nhị nguyên chính là thứ mà chúng ta cần buông xả. Những gì còn lại là tánh giác bất nhị vô ngại. Tánh giác không bám chấp đã hiện diện ngay khoảnh khắc bạn nhận biết tánh giác rigpa; nó ở đó cho tất cả mọi người. Thật không may, chúng sinh không biết cách nhìn—và họ không tin vào nó ngay cả khi họ thực sự nhìn thấy nó.

Bài viết liên quan