PHÁP GIỚI CỦA TÁNH KHÔNG VÀ TỪ BI
Nguyễn Thế Đăng
-------o0o-------
.jpg)
Trong bài này chúng ta sẽ học hỏi phần nào lời dạy của Bồ tát Di Lặc cho Thiện Tài đồng tử. Sau Bồ tát Di Lặc, Thiện Tài sẽ gặp Bồ tát Văn Thù, vị đã đề nghị Thiện Tài bắt đầu cuộc hành hương học hỏi, và cuối cùng gặp Bồ tát Phổ Hiền, chấm dứt con đường Phật đạo. Hai vị sau, Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền, nói rất ít cho Thiện Tài, cho nên để hiểu con đường Bồ tát hạnh thì phần gặp Bồ tát Di Lặc là rõ ràng vì phần này rất dài. Có thể nói là dài nhất so với các thiện tri thức Thiện Tài đã học hỏi.
1/ Khi đến gặp Bồ tát Di Lặc, đồng tử Thiện Tài vẫn thưa hỏi ngài câu hỏi từ khi bắt đầu con đường tham học.
“Bạch đại thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát học Bồ tát hạnh thế nào, tu Bồ tát đạo thế nào?"
Trước hết Bồ tát Di Lặc dạy Bồ đề tâm, phần này rất dài, nói về những ích lợi, công đức của việc phát Bồ đề tâm. “Bồ đề tâm thành tựu vô lượng công đức như vậy. Tóm lại, phải biết Bồ đề tâm đồng với công đức của tất cả Phật pháp”.
Ở đây chỉ lấy một thí dụ trong đoạn nói về Bồ đề tâm, để dễ hiểu đoạn kinh sau về lầu gác của Bồ tát Di Lặc:
“Như có ngọc báu tên là Tự tại vương ở châu Diêm Phù Đề cách mặt trời mặt trăng bốn vạn do tuần, bao nhiêu cảnh vật trang nghiêm đều hiện bóng rõ ràng trong ngọc báu ấy. Cũng vậy, công đức thanh tịnh của đại Bồ tát phát Bồ đề tâm ở trong sanh tử chiếu pháp giới hư không, tất cả công đức của Phật trí đều hiện rõ trong đó”.
Sau đó Thiện Tài xin Bồ tát mở cửa lầu gác của ngài để được vào. Trong lầu gác Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng này, pháp giới sự sự vô ngại hiện ra (ở đây chỉ trích ít câu):
“Lại thấy trong đó có vô lượng trăm ngàn lầu gác đẹp, đều nghiêm sức như trên. Mỗi lầu gác đều rộng rãi trang nghiêm đẹp đẽ đồng như hư không chẳng ngại nhau cũng chẳng tạp loạn nhau.
Thiện Tài ở một chỗ thấy tất cả chỗ. Ở tất cả chỗ đều thấy như vậy.
Bấy giờ, đồng tử Thiện Tài thấy lầu gác Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng, có đủ thứ cảnh giới tự tại không thể nghĩ bàn như vậy, sanh tâm đại hoan hỷ, hớn hở vui mừng vô lượng, thân tâm mềm mại, lìa tất cả tưởng, trừ tất cả chướng, diệt tất cả lầm. Chỗ thấy chẳng quên, chỗ nghe đều nhớ, chỗ nghĩ chẳng loạn, nhập vào môn giải thoát vô ngại, tâm vận dụng cùng khắp, thấy cùng khắp, kính lễ cùng khắp.
Vừa mới đảnh lễ, do thần lực của Bồ tát Di Lặc, Thiện Tài tự thấy thân mình ở khắp tất cả các lầu gác, thấy đủ những cảnh giới tự tại không thể nghĩ bàn”.
Được vào trong lầu gác, thân tâm của Thiện Tài biến thành pháp giới sự sự vô ngại, “lìa tất cả tưởng, trừ tất cả chướng, diệt tất cả lầm”. Tưởng, chướng và lầm đã tạo nên thế giới sanh tử khổ đau. Thấy được pháp giới thì thế giới sanh tử mê lầm biến mất.
Trong những lầu gác ấy, Thiện Tài thấy tất cả cuộc đời và công hạnh của Bồ tát Di Lặc, các đại chúng vây quanh chư Phật...
“Bấy giờ, đồng tử Thiện Tài nhờ được sức ghi nhớ chẳng quên, nhờ được mắt thanh tịnh thấy khắp mười phương, nhờ được trí vô ngại khéo quan sát, nhờ được trí tự tại của các Bồ tát, nhờ được cái hiểu rộng lớn của các Bồ tát đã vào trí địa, nên nơi mỗi mỗi sự vật trong tất cả lầu gác đều thấy vô lượng cảnh giới không thể nghĩ bàn như vậy.
Như người nằm mộng thấy đủ thứ cảnh vật, khi thức dậy bèn biết là cảnh mộng, nhưng có thể nhớ rõ không quên mất. Đồng tử Thiện Tài cũng lại như thế, nhờ thần lực Bồ tát Di Lặc gia trì nên biết pháp ‘ba cõi đều như mộng’. Vì diệt được tưởng hèn kém của chúng sanh, vì được hiểu biết rộng lớn vô ngại, vì an trụ cảnh giới thù thắng của các Bồ tát, vì nhập vào trí phương tiện chẳng thể nghĩ bàn, nên thấy được cảnh giới tự tại như vậy.
Như người sắp mạng chung, thấy tướng thọ báo theo nghiệp của họ. Người gây nghiệp ác thì thấy tất cả cảnh giới khổ nơi ba đường xấu ác. Người làm thiện thì thấy cung điện trời, vô lượng thiên chúng. Tuy thân chưa chết mà do nghiệp lực thấy được những việc như vậy. Cũng vậy, do nghiệp lực Bồ tát không thể nghĩ bàn nên thấy tất cả cảnh giới trang nghiêm.
...
Như có người được rồng gia trì, tự cho mình là rồng, vào cung điện rồng trong thời gian ngắn, mà tự cho rằng đã trải qua nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm. Cũng vậy, vì trụ trí huệ Bồ tát, vì Bồ tát Di Lặc gia trì nên trong thời gian ngắn mà cho rằng vô lượng kiếp.
Ví như Phạm cung tên là Trang Nghiêm Tạng, trong đó hiện tất cả sự vật trong đại thiên thế giới chẳng tạp loạn nhau. Cũng vậy trong lầu gác này, Thiện Tài thấy khắp tất cả cảnh giới trang nghiêm, đủ thứ khác biệt, chẳng tạp loạn nhau.
Ví như tỳ kheo nhập Biến xứ định, khi đi đứng ngồi nằm, tuỳ theo định đã nhập, cảnh giới ấy điều hiện tiền. Cũng vậy, Thiện Tài vào trong lầu gác, tất cả cảnh giới đều hiện rõ.
Như cung điện của Dạ xoa và cung điện của người cùng ở một chỗ mà chẳng tạp loạn nhau, đều tùy theo nghiệp mà chỗ thấy chẳng đồng.
Như biển cả, tất cả hình sắc ba ngàn thế giới đều thấy trong đó. Như nhà huyễn thuật dùng huyễn lực hiện những sự huyễn.
Cũng vậy, do lực oai thần của Bồ tát Di Lặc, do lực huyễn trí không nghĩ bàn, do có thể dùng huyễn trí biết được các pháp, do được lực tự tại của các Bồ tát, nên Thiện Tài thấy tất cả cảnh giới tự tại trang nghiêm trong lầu gác”.
Lầu gác Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng chỗ ở của Bồ tát Di Lặc được trang nghiêm bằng những cái gì?
– Bồ đề tâm đồng với công đức của tất cả Phật pháp. “Bồ đề tâm như hội đại thí, vì sung mãn tất cả tâm chúng sanh”.
– Bồ tát hạnh tự giác – giác tha, hành động của trí huệ và từ bi. Trí huệ từ bi này là của một đại Bồ tát ở địa thứ 10.
Đại từ đại bi ở cấp độ này trùm khắp vũ trụ, thông suốt vô ngại, và biến vũ trụ thành pháp giới.
Đại trí huệ ở đây không chỉ là tánh Không mà còn chứng ngộ sự năng động, cái dụng của tánh Không là như huyễn, nên kinh nói là huyễn trí.
Để tương ưng và đi vào pháp giới sự sự vô ngại này, hành giả cần có trí huệ tánh Không (huyễn trí), đại từ đại bi, công đức, và nguyện hạnh Phổ Hiền, gồm lại trong Bồ đề tâm và Bồ tát hạnh. Càng có nhiều yếu tố này, người ta càng có thể đi sâu vào pháp giới.
Nhờ sự gia trì của Bồ tát Di Lặc, với những công đức và trí huệ đã tích tập được của mình, đồng tử Thiện Tài khi bước vào lầu gác trang nghiêm của Bồ tát Di Lặc liền tương ưng, thấy được, kinh nghiệm được pháp giới sự sự vô ngại trong lầu gác ấy.
2/ “Bấy giờ, đại Bồ tát Di Lặc liền nhiếp thần lực, vào trong lầu gác, khảy móng tay ra tiếng, bảo Thiện Tài rằng:
Thiện nam tử! Hãy dậy! Pháp tánh như vậy, đây là sự hiện tướng của trí Bồ tát biết các pháp do nhân duyên tụ tập mà có. Tự tánh như vậy, như huyễn, như mộng, như bóng, như hình, đều không thành tựu.
Bấy giờ, nghe tiếng khảy móng tay, Thiện Tài liền từ tam muội dậy.
Bồ tát Di Lặc nói: Thiện nam tử! Ngươi trụ giải thoát tự tại chẳng thể nghĩ bàn của Bồ tát, thọ tam muội hỷ lạc của các Bồ tát, thấy được đủ thứ cung điện trang nghiêm do thần lực gia trì, trợ đạo lưu xuất của nguyện trí hiển hiện. Ngươi thấy Bồ tát hạnh, nghe Bồ tát pháp, biết Bồ tát đức, rõ Như Lai nguyện.
Thiện Tài thưa: Bạch đại thánh! đó là nhờ lực oai thần gia hộ ghi nhớ của thiện tri thức. Bạch đại thánh! Môn giải thoát này tên là gì?
Bồ tát Di Lặc nói: Thiện nam tử! Môn giải thoát này tên là Niệm trí trang nghiêm tạng vào tất cả cảnh giới ba đời chẳng quên mất.
Thiện nam tử! Trong môn giải thoát này có bất khả thuyết bất khả thuyết môn giải thoát, là chỗ chứng đắc của Bồ tát nhất sanh bổ xứ”.
Pháp tánh như vậy, như huyễn như mộng, như bóng như hình, đều không thành tựu. Không thành tựu là không có thật, vì là tánh Không vô tự tánh. Không thành tựu, không thật có tự tánh, nhưng vẫn xuất hiện, đó là vũ trụ Hoa Nghiêm, pháp giới Hoa Nghiêm.
Xuất hiện nhưng không thành tựu, không thật có tự tánh, nên sự xuất hiện chính là giải thoát.
Ở đây, với cấp độ trung bình của người thực hành, quán sát tự tánh như huyễn như mộng của pháp giới, đó là thấy pháp giới, ngộ nhập pháp giới và đi vào pháp giới.
“Thiện Tài hỏi: Sự trang nghiêm này đi về đâu?
Bồ tát Di Lặc nói: Đi về nơi chỗ từ đó nó đến.
Thiện Tài hỏi: Từ chỗ nào đến?
Bồ tát Di Lặc nói: Từ trong trí huệ thần lực của Bồ tát mà đến, nương trí huệ thần lực của Bồ tát mà trụ. Không có chỗ đi, cũng không có chỗ trụ. Chẳng phải tích tập, chẳng phải thường hằng, xa lìa tất cả.
Thiện nam tử! Như Long vương làm mưa xuống, chẳng từ thân ra, chẳng từ tâm ra, chẳng có tích tập, mà chẳng phải chẳng thấy. Chỉ do sức tâm niệm của Long vương mà mưa xuống khắp thiên hạ. Cảnh giới như vậy chẳng thể nghĩ bàn.
Thiện nam tử! Cũng vậy, những sự trang nghiêm trong lầu gác này chẳng trụ ở trong cũng chẳng trụ ở ngoài mà chẳng phải chẳng thấy. Chỉ do thần lực của Bồ tát và lực thiện căn của ngươi mà thấy được như vậy.
Thiện nam tử! Ví như nhà huyễn thuật làm các sự huyễn, không từ đâu đến, không đi đến đâu. Dầu không đến không đi, nhưng do lực huyễn mà thấy rõ ràng.
Cũng vậy, những sự trang nghiêm này không từ đâu đến, cũng không chỗ đi. Dầu không đến không đi, nhưng do tập quen (tập quán) lực huyễn trí chẳng thể nghĩ bàn và do lực đại nguyện thuở xưa mà hiển hiện như vậy”.
Sự trang nghiêm đi về nơi chỗ từ đó nó đến, có nghĩa là nó đến từ tánh Không và đi về tánh Không. Sự xuất hiện đến và đi này là sự xuất hiện của tánh Không. Và sự xuất hiện đến đi của tánh Không là như huyễn, như mộng. Thấy như vậy là huyễn trí.
Những trang nghiêm trong lầu gác của đức Di Lặc, và rộng ra, của toàn pháp giới là như huyễn, vì là sự xuất hiện của tánh Không. Những trang nghiêm xuất hiện ấy do công đức (sức đại nguyện thuở xưa) của chư Phật, chư Bồ tát và nhờ lực huyễn trí mà hiển hiện, thấy được. Bồ tát có đủ công đức và huyễn trí thì có thể tương ưng được với những trang nghiêm sự sự vô ngại của pháp giới.
3/ Tiếp tục đoạn kinh trên, Thiện Tài thưa hỏi về chỗ đến chỗ đi, không phải của pháp giới nữa, mà của các Bồ tát.
“Thiện Tài thưa: Đại thánh từ xứ nào đến đây?
Bồ tát Di Lặc nói: này Thiện nam tử! Các Bồ tát không đến không đi, như vậy mà đến. Không đi, không ở, như vậy mà đến. Không chỗ, không chấp, không mất, không sanh, không trụ, không dời, không động, không khởi, không luyến, không nhiễm, không nghiệp không báo, không khởi không diệt, không đoạn, không thường, như vậy mà đến”.
Bồ tát là vị đã chứng ngộ một phần tánh Không (vì Bồ tát có mười cấp bậc, mười địa). Bồ tát đến từ tánh Không, ở trong tánh Không, hoạt động trong tánh Không, và đi về trong tánh Không. Như thế, sự xuất hiện, hoạt động và ra đi (chết) của Bồ tát là như huyễn, vì đó là sự xuất hiện và hoạt động của tánh Không.
Suốt cả đoạn kinh này nói nhiều đến “huyễn trí” là như vậy.
“Này Thiện nam tử! Bồ tát từ nơi đại bi mà đến, vì muốn điều phục các chúng sanh. Từ nơi đại từ mà đến, vì muốn cứu hộ các chúng sanh. Từ nơi tịnh giới mà đến, vì tùy theo sở thích mà thọ sanh. Từ nơi đại nguyện mà đến, vì nguyện lực thuở xưa nhiếp giữ. Từ nơi thần thông mà đến vì tất cả mọi nơi tùy thích mà hiện. Từ nơi không dao động mà đến, vì hằng chẳng lìa bỏ tất cả chư Phật. Từ nơi không lấy bỏ mà đến, vì chẳng bắt buộc thân tâm phải qua lại. Từ nơi trí huệ phương tiện mà đến, vì tùy thuận tất cả chúng sanh. Từ nơi thị hiện biến hóa mà đến, vì giống như bóng hình (ảnh tượng) mà hóa hiện”.
Sự xuất hiện đến – đi của Bồ tát là do sức mạnh, năng lượng của tánh Không như huyễn. Nhưng với con đường Bồ tát, sức mạnh năng lượng của tánh Không còn được nhân lên bởi từ bi, nguyện hạnh. Bồ tát đi bằng hai chân, trí huệ tánh Không và từ bi nguyện hạnh. Do đó sự xuất hiện đến đi của Bồ tát không chỉ một vài lần, mà vô số lần, nhưng không mệt mỏi.
Từ nền tảng tánh Không và từ bi sanh ra trí huệ phương tiện, thị hiện biến hóa và không lìa bỏ chư Phật.
Trí huệ tánh Không và từ bi với chúng sanh càng mở rộng bao nhiêu, càng có sức mạnh và năng lượng để mở rộng, thì sự chứng ngộ pháp giới của Bồ tát càng rộng ra, sâu thẳm bấy nhiêu.
4/ Tiếp tục đoạn kinh trên, Bồ tát Di Lặc nói tiếp:
“Nhưng này Thiện nam tử! Ngươi hỏi ta từ chỗ nào đến?
Này Thiện nam tử! Ta từ sanh quán, nước Ma La Đề mà đến nơi đây. Thiện nam tử! Nước ấy có xóm làng tên là Phòng Xá, nơi ấy có trưởng giả tử tên là Cù Ba La. Ta vì hóa độ người ấy mà ở nơi đó. Lại vì tất cả nhân dân đáng được hóa độ nên sanh ra nơi đó để thuyết pháp. Lại cũng vì cha mẹ và các quyến thuộc Bà la môn mà diễn nói pháp Đại thừa khiến cho họ hướng đến và nhập vào nên ta trụ ở nơi đó, rồi từ chỗ đó đến đây.
Thiện Tài thưa: Bạch đại thánh! Chỗ nào là sanh xứ của Bồ tát?
Bồ tát Di Lặc nói: Thiện nam tử! Bồ tát có mười chỗ sanh. Những gì là mười?
Thiện nam tử! Bồ đề tâm là chỗ sanh của Bồ tát, vì khiến được sanh vào nhà, gia đình các Bồ tát. Thâm tâm là chỗ sanh của Bồ tát, vì khiến sanh vào nhà thiện tri thức. Các địa là chỗ sanh của Bồ tát, vì sanh vào nhà Ba la mật. Đại nguyện là chỗ sanh của Bồ tát, vì sanh vào nhà diệu hạnh. Đại bi là chỗ sanh của Bồ tát, vì sanh vào nhà Bốn nhiếp pháp. Quán sát như lý là chỗ sanh của Bồ tát. Vì sanh vào nhà Bát nhã ba la mật. Đại thừa là chỗ sanh của Bồ tát, vì sanh vào nhà phương tiện khéo léo. Giáo hóa chúng sanh là chỗ sanh của Bồ tát, vì sanh vào nhà chư Phật. Trí huệ phương tiện là chỗ sanh của Bồ tát, vì sanh vào nhà vô sanh pháp nhẫn, tu hành tất cả pháp là chỗ sanh của Bồ tát, vì sanh vào nhà tất cả Như Lai quá khứ, hiện tại, vị lai.
Thiện nam tử! Đại Bồ tát dùng Bát nhã ba la mật làm mẹ, Phương tiện khéo léo làm cha, Bố thí ba la mật làm nhũ mẫu, Giới ba la mật làm dưỡng mẫu, Nhẫn ba la mật làm đồ trang nghiêm, Tinh tấn ba la mật làm người dưỡng dục, Thiền ba la mật làm giặt rửa, thiện tri thức làm thầy dạy, tất cả bồ đề phần làm bạn, tất cả pháp thiện làm quyến thuộc, tất cả Bồ tát làm huynh đệ, Bồ đề tâm làm nhà, tu hành đúng như lý làm gia pháp, các địa làm gia xứ, các nhẫn làm gia tộc, đại nguyện làm gia giáo, đầy đủ các hạnh làm thuận gia pháp, khuyên phát Đại thừa làm nối gia nghiệp, nước pháp quán đảnh nhất sanh bổ xứ Bồ tát làm thái tử, thành tựu giác ngộ làm hay tịnh gia tộc.
Này Thiện nam tử. Bồ tát vượt qua bậc phàm phu, nhập vào Bồ tát vị, sanh vào nhà Như Lai, trụ chủng tánh Phật như vậy, hay tu các hạnh, chẳng dứt Tam bảo, khéo hay giữ gìn chủng tộc của Bồ tát, tịnh hạt giống Bồ tát, sanh nơi tôn quý thù thắng, không có lỗi ác, được tất cả thế gian trời, người, ma, phạm, sa môn, bà la môn cung kính ngợi khen”.
Chỗ sanh của Bồ tát, ban đầu là Bồ đề tâm, được sanh vào gia đình các Bồ tát. Bồ tát có nhiều chỗ sanh, đó là những yếu tố tạo nên con đường Bồ tát: thâm tâm, đại nguyện, diệu hạnh, đại bi, trí huệ Bát nhã, giáo hóa chúng sanh... Thực hiện những điều ấy thì được sanh vào nhà chư Phật từ quá khứ cho đến vị lai.
Sanh vào nhà Như Lai thì có cha mẹ, huynh đệ, người giúp đỡ, quyến thuộc đều là những Phật pháp.
Bồ tát là nhập vào Bồ tát vị, sanh vào nhà Như Lai, trong đó nhờ những Bồ tát khác, nhờ những pháp thực hành, nên “chẳng dứt Tam bảo, khéo hay giữ gìn chủng tộc của Bồ tát”, đi trên đường giác ngộ đồng thời giáo hóa chúng sanh, cho đến được quán đảnh Bồ tát nhất sanh bổ xứ (một đời nữa thành Phật như Bồ tát Di Lặc).
Điều đáng chú ý ở đoạn này là chữ gia (nhà, gia đình): gia pháp, gia xứ, gia tộc, gia giáo, gia nghiệp..., nói lên đời sống và hành động của Bồ tát đều ở trong nhà Như Lai cùng với những Bồ tát khác để Phật pháp trường tồn.
“Này Thiện nam tử! Đại Bồ tát sanh nhà tôn thắng như vậy rồi, vì biết tất cả pháp như bóng hình nên đối với thế gian không ghét chê. Vì biết tất cả pháp như biến hóa nên không nhiễm dính các cõi hữu lậu. Vì biết tất cả pháp không có ngã nên giáo hóa chúng sanh tâm không nhàm mỏi. Vì lấy đại từ bi làm thể tánh nên nhiếp thọ chúng sanh chẳng cảm thấy khổ nhọc. Vì thấu rõ sanh tử như mộng nên trải qua tất cả kiếp mà không sợ hãi. Vì biết rõ các uẩn đều như huyễn nên thị hiện thọ sanh mà không nhàm mỏi. Vì biết các giới, xứ đồng pháp giới, nên nơi các cảnh giới không bị thương tổn. Vì biết tất cả tưởng như sóng nắng nên vào nơi các loài không sanh điên đảo mê lầm. Vì đạt tất cả pháp đều như huyễn nên vào cảnh giới ma chẳng sanh nhiễm bám. Vì biết pháp thân nên tất cả phiền não không dối gạt được. Vì được tự tại nên tất cả các loài đều thông đạt vô ngại”.
Nhà Như Lai không tách lìa với sanh tử của chúng sanh, trái lại sanh tử ở trong nhà Như Lai nhưng được các Bồ tát thấy là như huyễn, như mộng, như biến hóa, “đồng với pháp giới” ... nên sanh tử là vô hại đối với Bồ tát.
Con đường Bồ tát là trí huệ thấy sanh tử là như huyễn như mộng và “lấy đại từ bi làm thể tánh nên nhiếp thọ chúng sanh chẳng cảm thấy khổ nhọc”. Bồ tát là trí huệ tánh Không và đại từ bi. Hai cái này là năng lực để Bồ tát đi vào pháp giới. Tánh Không là vô tự tánh, không có thực thể nên không có cái nào nối kết dính líu với cái nào. Kinh Đại Bát Nhã nói tánh Không là “ly” (lìa). Ngược lại đại từ bi nối kết tất cả với nhau. Lìa rời và hợp nhất, tánh Không và từ bi, hai mặt này tạo thành pháp giới.
“Này Thiện nam tử! Thân ta sanh khắp tất cả pháp giới, đồng sắc tướng khác biệt với tất cả chúng sanh, đồng ngôn âm sai khác với tất cả chúng sanh, đồng những danh hiệu với tất cả chúng sanh, đồng những cử chỉ sở thích của tất cả chúng sanh, tùy thuận thế gian giáo hóa điều phục. Thị hiện thọ sanh đồng với tất cả chúng sanh thanh tịnh, làm các sự nghiệp đồng với tất cả chúng sanh phàm phu. Tư tưởng đồng với tất cả chúng sanh, thệ nguyện đồng với tất cả Bồ tát, mà thị hiện thân đầy khắp pháp giới”.
Bồ tát ở những địa cao nhất thì đồng với pháp giới. Đồng với pháp giới là đồng với tất cả chúng sanh ở trong đó, đồng sắc tướng, đồng ngôn ngữ, đồng cử chỉ, đồng sở thích, đồng sự nghiệp, đồng thọ sanh..., có như thế mới có thể “tùy thuận thế gian giáo hóa điều phục”.
Đồng với tất cả sanh tử, đồng với tất cả chúng sanh (đồng thể đại bi) vì đồng một pháp tánh.
Nhưng thật ra, đồng mà không đồng, vì không nhiễm. Như đại dương đồng với mọi làn sóng nhưng không nhiễm bởi các làn sóng. Như tấm gương Đại viên cảnh trí, đồng với mọi bóng in vào đó, nhưng gương không nhiễm cái dơ hay sạch của các bóng vì các bóng không thể dính vào gương.
“Thiện nam tử! Ta vì hóa độ những người đồng tu các hạnh với ta thuở xưa mà nay thối thất tâm Bồ đề. Cũng vì giáo hóa cha mẹ, quyến thuộc, cũng vì giáo hóa các bà la môn khiến họ bỏ tánh kiêu mạn, được sanh vào chủng tộc Như Lai, nên ta sanh vào nhà bà la môn, nơi xóm làng Phòng Xá, nước Ma La Đề, cõi Diêm Phù Đề này.
Thiện nam tử! Ta ở trong đại lầu gác này, tùy tâm ưa thích của chúng sanh, dùng đủ thứ phương tiện mà giáo hóa điều phục.
Thiện nam tử! Ta vì tùy thuận tâm chúng sanh, vì thành thục chư thiên đồng tu hành trên cung trời Đâu Suất, ta thị hiện phước trí biến hóa trang nghiêm của Bồ tát, hơn hẳn tất cả các dục giới, khiến cho họ bỏ lìa các dục lạc. Vì cho họ biết hữu vi đều vô thường, vì khiến cho biết chư thiên có thạnh có suy, vì muốn thị hiện pháp môn đại trí hạ sanh thế gian, cùng với chư Bồ tát nhất sanh bổ xứ cùng nhau đàm luận. Vì muốn nhiếp hóa các người đồng hành, vì muốn giáo hóa những người còn sót lại của thời đức Thích Ca Như Lai khiến họ đều khai ngộ, như hoa sen nở, khi mạng chung ta sẽ sanh về cõi trời Đâu Suất.
Thiện nam tử! Khi nguyện ta đầy đủ, thành Nhất thiết trí, chứng Vô thượng Bồ đề, thì ngươi và Bồ tát Văn Thù đều được thấy ta”.
Trong đoạn cuối dạy bảo Thiện Tài, Bồ tát Di Lặc nói về công việc của ngài ở thế gian trong kiếp này và khi mạng chung sẽ sanh về cõi trời Đâu Suất, nơi đức Thích Ca đã từng làm Bồ tát nhất sanh bổ xứ, trước khi ngài xuống thế gian để thành Phật, hóa độ chúng sanh.



