LỊCH SỬ CỦA NHỮNG DÒNG TRUYỀN THỪA GIÁO LÝ TỚI TÂY TẠNG - Trích “Triết lý Ri-me của Đức Jamgon Kongtrul vĩ đại: Một nghiên cứu về các dòng truyền thừa của Phật giáo Tây Tạng” - Tác giả: RINGU TULKU RINPOCHE - Nguyên Chân chuyển dịch Việt ngữ

LỊCH SỬ CỦA NHỮNG DÒNG TRUYỀN THỪA GIÁO LÝ TỚI TÂY TẠNG

Trích “Triết lý Ri-me của Đức Jamgon Kongtrul vĩ đại: Một nghiên cứu về các dòng truyền thừa của Phật giáo Tây Tạng”.

Tác giả: RINGU TULKU RINPOCHE

Nguyên Chân chuyển dịch Việt ngữ.

--o0o--

Bản văn Luật tạng chính được nghiên cứu ở Tây Tạng là một bản bình giảng có tên là Luật Tạng Căn Bản Luận. Đây là bản văn sơ cấp về Luật tạng được cả các trường phái Thanh Văn thừa và Đại thừa nắm giữ, và nó được biên soạn bởi ngài Gunaprabha (Đức Quang), một trong bốn đệ tử vĩ đại của ngài Thế Thân.
LỊCH SỬ CỦA NHỮNG DÒNG TRUYỀN THỪA GIÁO LÝ TỚI TÂY TẠNG - Trích “Triết lý Ri-me của Đức Jamgon Kongtrul vĩ đại: Một nghiên cứu về các dòng truyền thừa của Phật giáo Tây Tạng” - Tác giả: RINGU TULKU RINPOCHE - Nguyên Chân chuyển dịch Việt ngữ

 

Cách thức mà những giáo lý của Đức Phật được mang đến Tây Tạng và được hoằng truyền có thể được chia thành hai phần: các dòng truyền thừa giáo lý và các dòng truyền thừa thực hành. Trong chương này, chúng ta sẽ thảo luận về các dòng truyền thừa giáo lý, phần này cũng được chia làm hai: các dòng truyền thừa kinh điển và các dòng truyền thừa mật điển (tantra). Trước tiên, đối với các dòng truyền thừa kinh điển, tôi sẽ mô tả ngắn gọn về các dòng truyền thừa giáo lý của Luật tạng (Vinaya), A-tỳ-đạt-ma (Abhidharma) và Nhận thức hợp lý (Pramana), và sau đó sẽ đưa ra một mô tả đầy đủ hơn về các dòng truyền thừa của Bát-nhã Ba-la-mật-đa (Prajnaparamita) và Trung Quán (Madhyamaka).

CÁC DÒNG TRUYỀN THỪA GIÁO LÝ CỦA KINH ĐIỂN

LUẬT TẠNG

Truyền thống Luật tạng tại Ấn Độ Luật tạng là khuôn khổ văn bản mà dựa vào đó cộng đồng tu viện được xây dựng. Nó bao gồm hai phần các quy tắc áp dụng cho các cá nhân, và hai phần các thủ tục và quy ước áp dụng cho toàn bộ Tăng đoàn tu viện.

Để làm bối cảnh cho việc thấu hiểu các dòng truyền thừa giáo lý Luật tạng, từng có bốn trường phái chính của Thanh Văn thừa (Shravakayana) ở Ấn Độ, sau này mở rộng thành mười tám trường phái. Mỗi trường phái có một phiên bản hơi khác nhau về bản Kinh gốc về Sự Giải Thoát Cá Nhân, hay Kinh Biệt Giải Thoát và bốn phần của kinh điển Luật tạng. Trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada) là truyền thống đã đến Tây Tạng, và truyền thống này đã mang theo Kinh Biệt Giải Thoát cũng như bốn phần của Luật tạng. Bốn phần này được gọi là Truyền Trao Cơ Bản Của Luật Tạng, Phân Biệt Các Truyền Trao Của Luật Tạng, Các Truyền Trao Nhỏ Của Luật Tạng, và Giáo Lý Siêu Phàm Của Luật Tạng.

Đối với tất cả các trường phái Thanh Văn thừa, luận thuyết hay bản bình giảng chính về Luật tạng là Đại Kho Tàng Về Sự Giải Trình Chi Tiết, hay Đại Tỳ Bà Sa Luận (Mahavibhasha) bằng tiếng Phạn. Đây là một tuyển tập các bản bình giảng về Luật tạng và các chủ đề khác được viết bởi bảy bậc đạo sư vĩ đại của Thanh Văn thừa. Nó là kinh điển chính được nghiên cứu bởi các vị Tỳ Bà Sa Bộ, những người lấy tên của mình từ chính bản văn đó. Cách đặt tên này giống với các vị Kinh Lượng Bộ (Sautrantika), những người lấy tên từ việc họ tập trung vào kinh điển thay vì các luận thuyết (shastra). Kangyur có mười ba tập bản văn Luật tạng, đề cập đến mười bảy chủ đề liên quan đến tăng đoàn thọ giới. Mặc dù Đại Tỳ Bà Sa Luận là bản bình giảng chính, nó đã không được dịch sang tiếng Tây Tạng.

Bản văn Luật tạng chính được nghiên cứu ở Tây Tạng là một bản bình giảng có tên là Luật Tạng Căn Bản Luận. Đây là bản văn sơ cấp về Luật tạng được cả các trường phái Thanh Văn thừa và Đại thừa nắm giữ, và nó được biên soạn bởi ngài Gunaprabha (Đức Quang), một trong bốn đệ tử vĩ đại của ngài Thế Thân. Ngài Thế Thân có rất nhiều học trò xuất chúng, và bốn người trong số họ được coi là giỏi hơn cả chính ngài; Gunaprabha là người giỏi hơn về Luật tạng. Gunaprabha đã sắp xếp bốn phần của Luật tạng vào đúng trình tự, và cô đọng mười bảy chủ đề của Luật tạng thành một định dạng ngắn gọn hơn; tác phẩm này được gọi là Luật Tạng Căn Bản Luận. Ngài cũng đã viết một bản văn khác có tên là Luận Về Một Trăm Hành Động, đưa ra những chỉ dẫn thực hành về các hoạt động liên quan đến Luật tạng.

Các bản văn Luật tạng quan trọng khác là Tràng Hoa Tương Tục của vị A-la-hán Sagadeva, và Năm Mươi Bài Kệ của ngài Gedun Zangpo xứ Kashmir. Năm Mươi Bài Kệ là một bản văn Luật tạng phổ biến, đặc biệt hữu ích cho những người mới bắt đầu. Bậc đạo sư Luật tạng vĩ đại Shakyaprabha (Thích Ca Quang) đã viết một bản văn gốc và bản bình giảng về Luật tạng có tên là Ba Trăm (Three Hundred). Kể từ thời điểm đó, Gunaprabha và Shakyaprabha đã nổi danh là hai bậc nắm giữ tối cao của Luật tạng.

Các học trò của ngài Gunaprabha và Shakyaprabha, bao gồm các vị thầy được biết đến là Sáu Bậc Đạo Sư của Luật Tạng đã giảng dạy và hoằng truyền Luật tạng một cách rộng rãi tại Ấn Độ. Chính thông qua các dòng truyền thừa của các ngài mà giáo lý Luật tạng đã đến Tây Tạng.

Để bổ sung một số thông tin nền tảng về việc xưng tụng Gunaprabha và Shakyaprabha như là những bậc nắm giữ tối cao của Luật tạng, các ngài nằm trong số tám học giả Ấn Độ đặc biệt được tôn kính ở Tây Tạng. Tám vị này được biết đến là Nhị vị Tối Thắng và Sáu vị Trang Nghiêm. Có hai cách phân loại các nhóm này. Một số người coi Nhị vị Tối Thắng là Nagarjuna (Long Thọ) và Asanga (Vô Trước), và Sáu vị Trang Nghiêm là Aryadeva (Thánh Thiên), Vasubandhu (Thế Thân), Dignaga (Trần Na), Dharmakirti (Pháp Xứng), Gunaprabha (Đức Quang), và Shakyaprabha (Thích Ca Quang). Đôi khi Nhị vị Tối Thắng lại dùng để chỉ hai bậc nắm giữ tối cao của Luật tạng là Gunaprabha và Shakyaprabha. Khi đó, đối với Sáu vị Trang Nghiêm, các bậc trang nghiêm vĩ đại của Cái Thấy thâm sâu là Nagarjuna (Long Thọ) và Aryadeva (Thánh Thiên), các bậc trang nghiêm vĩ đại của hạnh Bồ tát rộng lớn là Asanga (Vô Trước) và Vasubandhu (Thế Thân), và các bậc trang nghiêm vĩ đại về nhận thức hợp lý là Dignaga (Trần Na) và Dharmakirti (Pháp Xứng).

CÁC DÒNG TRUYỀN THỪA LUẬT TẠNG TẠI TÂY TẠNG

Các dòng truyền thừa giáo lý Luật tạng lần đầu tiên đến Tây Tạng vào thế kỷ thứ tám, trong thời kỳ của pháp vương Trisong Detsen, khi Chokro Lui Gyaltsen tu học ở Tây Tạng với hai bậc đạo sư Ấn Độ vĩ đại là Danashila và Jinamitra. Chokro Lui Gyaltsen đã truyền lại các giáo lý Luật tạng cho ba học giả Mar, Yo và Tsang. Các học giả Luật tạng này là ba vị tu sĩ nổi tiếng đã chạy trốn đến miền đông Tây Tạng vào thời của Vua Langdarma trong thế kỷ thứ chín. Tên đầy đủ của các ngài là Mar Shakyamune xứ Tolung, Yo Gejung xứ Potongpa, và Rabsal xứ Tsang. Mar, Yo và Tsang đã ban các giáo lý Luật tạng cho Lachen Gongpa Rabsal. Sau đó, cả bốn vị đã truyền giáo lý cho Lu-me. Lu-me đã mang các giáo lý này trở lại miền trung Tây Tạng và truyền chúng cho Zu Dorje Gyaltsen.

Đây trở thành dòng truyền thừa giáo lý được gọi là truyền thống Luật tạng Hạ. Nó được gọi là “Hạ” bởi vì nó được thiết lập ở vùng Kham, gần biên giới Trung Quốc, trước khi nó được mang trở lại miền trung Tây Tạng. Một dòng truyền thừa giáo lý Luật tạng khác, được gọi là truyền thống Luật tạng Thượng, đến thông qua ngài Shakyasena, người đã nhận những giáo lý này từ cả ngài Jinamitra và Danashila. Từ Shakyasena, các giáo lý được truyền cho Dharmapala, người đã giảng dạy chúng cho Lup Lotsawa và Kyok Duldzin, những người Tây Tạng đầu tiên trong dòng truyền thừa này. Lup Lotsawa và Kyok Duldzin đã giảng dạy giáo lý này cho Zu Dorje Gyaltsen, nhờ vậy ngài Zu đã thọ nhận được cả truyền thống Luật tạng Thượng và Luật tạng Hạ, và ngài đã kết hợp chúng thành một dòng truyền thừa duy nhất. Dòng truyền thừa Luật tạng kết hợp này được truyền cho bốn người con của ngài Zu: Dzimpa Sherap Ó và Neso Dragpa Gyaltsen, những người được gọi là Hai Người Con từ xứ Tsang; và Pochung Tsultrim Lama cùng Len Tsuljang, những người được gọi là Hai Người Con từ xứ U. Bốn bậc đạo sư này đã khiến cho các giáo lý Luật tạng lan rộng khắp Tây Tạng.

Về sau, bậc đạo sư vĩ đại Tsonawa đã viết các bản bình giảng về Luật tạng, nổi tiếng nhất là cuốn Những Tia Nắng Mặt Trời và ngài thực sự đã khiến các giáo lý Luật tạng tỏa sáng như mặt trời trên khắp Tây Tạng. Có thêm nhiều bậc đạo sư Luật tạng vĩ đại ở Tây Tạng, chẳng hạn như Gya Dulwa Wangchuk Tsultrim và Ja Dulwa Wangchuk Bar. Cả hai ngài đều soạn thảo các bản bình giảng về Luật Tạng Căn Bản Luận. Ja Dulwa Wangchuk Bar cũng đã thành lập các học viện Phật pháp ở Zulphu và những nơi khác, và bản văn Luật tạng của ngài là một trong những bản văn quan trọng nhất. Dòng truyền thừa giáo lý của Ja Dulwa Wangchuk Bar trở nên quan trọng đến mức người ta từng nói rằng, “Luật tạng bắt nguồn từ Ja.” Dòng truyền thừa của Ja được truyền cho Tsi Dulwa Dzinpa và tiếp tục qua những vị khác cho đến khi Sonam Dragpa ban giáo lý này cho Buton Rinchen Drup, người là một nhân vật quan trọng trong nhiều dòng truyền thừa Tây Tạng.

Một dòng truyền thừa Luật tạng khác đến thông qua Kache Panchen, người đã giảng dạy Luật Tạng Căn Bản Luận và Tràng Hoa Tương cho Sakya Pandita. Dòng truyền thừa này được trao truyền cho Buton thông qua Senge Silnon, Shangpa Joton, Tseme Che, và những vị khác.

Tóm lại, tất cả các dòng truyền thừa giáo lý Luật tạng đều quy tụ về Buton Rinchen Drup. Ngài đã viết cuốn Đại Luật Tạng và Bản Bình Giảng Về Những Điểm Khó Của Luật Tạng Căn Bản Luận. Ngài đã làm lợi lạc vô cùng lớn lao cho các giáo lý Luật tạng ở Tây Tạng, và giáo lý của ngài đã lan rộng khắp mọi nơi.

Một bậc đạo sư Luật tạng Tây Tạng vĩ đại khác là Kunkhyen Rongpo, người đã thọ nhận các giáo lý Luật tạng từ Panchen Nagyi Rinchen. Kunkhyen Rongpo đã đối chiếu các bản dịch tiếng Tây Tạng của Luật tạng với các bản văn tiếng Phạn nguyên gốc, viết một số giáo trình Luật tạng, và thiết lập một dòng truyền thừa giáo lý vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Như đã lưu ý ở trên, có hai dòng truyền thừa thực hành của Luật tạng ở Tây Tạng: Luật tạng Thượng và Luật tạng Hạ. Tuy nhiên, chỉ có duy nhất một dòng truyền thừa giáo lý. Tất cả bốn trường phái của Phật giáo Tây Tạng đều duy trì dòng truyền thừa giáo lý không gián đoạn của cuốn Luật Tạng Căn Bản Luận, và không có bất kỳ tranh chấp nào về Luật tạng giữa các trường phái khác nhau.

A-TỲ-ĐẠT-MA

TRUYỀN THỐNG A-TỲ-ĐẠT-MA TẠI ẤN ĐỘ

A-tỳ-đạt-ma (Abhidharma), hay “thắng pháp,” được gọi là Mẹ của Chánh Pháp linh thiêng. Tuyển tập các giáo lý về triết học và tâm lý học Phật giáo này được cho là nền tảng để giảng dạy Giáo pháp và là cửa ngõ để bước vào Giáo pháp. Nó có hai phần: A-tỳ-đạt-ma Thượng của Đại thừa, và A-tỳ-đạt-ma Hạ của Thanh Văn thừa. Đối với Đại thừa, luận thuyết chính là Tập Luận A-tỳ-đạt-ma của ngài Vô Trước (Asanga).

Ngài An Huệ (Sthiramati), Đạo sư Thắng Tử (Acharya Jinaputra) và nhiều vị khác đã viết các bản bình giảng về bản văn này. Đối với Thanh Văn thừa, các luận thuyết chính là Kho tàng của A-tỳ-đạt-ma (Treasury of Abhidharma) của ngài Thế Thân và bản tự bình giảng của tác phẩm này. Có rất nhiều bản bình giảng của Ấn Độ về Kho tàng của A-tỳ-đạt-ma: một bản của ngài Chúng Hiền (Sanghabhadra), người từng là thầy của chính ngài Thế Thân; và các bản khác của Trần Na (Dignaga), An Huệ (Sthiramati), Mãn Tăng (Purnavardhana), Thắng Tử (Jinaputra), Thế Thân (Vasubandhu), và nhiều vị khác đã giảng dạy A-tỳ-đạt-ma tại Ấn Độ.

CÁC DÒNG TRUYỀN THỪA A-TỲ-ĐẠT-MA TẠI TÂY TẠNG

Ở Tây Tạng, trong thời kỳ hoằng truyền giáo lý đầu tiên vào thế kỷ thứ tám, Học giả (Pandita) Jinamitra, Dịch giả (Lotsawa) Kawa Paltsek và những vị khác đã dịch Tập Luận A-tỳ-đạt-ma và Kho tàng của A-tỳ-đạt-ma cùng các bản tự bình giảng về chúng. Các ngài cũng đã dịch phần lớn các tài liệu A-tỳ-đạt-ma, bao gồm các bản bình giảng của Thắng Tử (Jinaputra), và đã giảng dạy những bản văn này. Ba trong số các học trò của Kawa Paltsek có kết nối đặc biệt với A-tỳ-đạt-ma: Nanam Da-we Dorje, Lhalung Palgyi Dorje và We Yeshe Gyalwa. Sau đó, We Yeshe Gyalwa đi đến vùng Kham và giảng dạy A-tỳ-đạt-ma cho Gyalwe Yeshe, rồi Gyalwe Yeshe đã mang những giáo lý này trở lại các vùng U và Tsang ở miền trung Tây Tạng.

Trong thời kỳ đó, Tập Luận A-tỳ-đạt-ma là bản văn chính được nghiên cứu. Về sau, một số vị thầy, chẳng hạn như Drangti Darma Nyingpo, đã lấy đây làm bản văn A-tỳ-đạt-ma chính của họ. Panglo Chenpo, một dịch giả vĩ đại từ vùng Pang, đã viết một bản bình giảng về nó mang tên Lời Giải Thích Làm Sáng Tỏ Các Đối Tượng Của Tri Thức, và Panchen Shakya Chogden đã viết một bản bình giảng có tựa đề Những Làn Sóng Đại Dương: Ý Nghĩa của Cái Thấy. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về Tập Luận A-tỳ-đạt-ma trong thời kỳ hoằng truyền Phật giáo đầu tiên tại Tây Tạng, nhưng sau này Kho tàng của A-tỳ-đạt-ma lại trở nên phổ biến hơn, và Tập Luận A-tỳ-đạt-ma được nghiên cứu ít hơn.

Về dòng truyền thừa giáo lý của Kho tàng của A-tỳ-đạt-ma, khi học giả (pandita) Mitrijnana, một học trò vĩ đại của Naropa, đến Tây Tạng, ngài đã đi tới một nơi ở vùng Kham gọi là Den Longthang, nơi ngài giảng dạy Kho tàng của A-tỳ-đạt-ma cho nhiều học giả và tu sĩ. Học trò của ngài là Yechenpo Sherap Drak và các bậc đạo sư khác đã hoằng truyền giáo lý này ở U, Tsang và Kham. Đó là cách Drangti Darma Nyingpo thọ nhận các dòng truyền thừa giáo lý chính của cả A-tỳ-đạt-ma Thượng và Hạ. Những học trò chính của Drangti Darma Nyingpo là Rok Chokyi Tsondru và Gowo Yeshe Jungne. Cùng với học trò của Gowo là Ben Konchok Dorje, và học trò của Ben tên là Thogar Namde (hay Tho Kunga Dorje), những bậc đạo sư này đã hoằng truyền A-tỳ-đạt-ma một cách rộng rãi. Sau đó, Chim Tsondru Senge đã viết một bản bình giảng có tên là Những Bức Thư Biết Chạy đây là bản bình giảng tiếng Tây Tạng đầu tiên về Kho tàng của A-tỳ-đạt-ma. Từ đó, dòng truyền thừa được trao truyền cho Chim Namkha Drak, Samten Zangpo, Chomden Rigral, Rendawa cùng những bậc nắm giữ dòng truyền thừa của ngài, và các vị khác.

Tất cả những học giả vĩ đại này đã viết các bản bình giảng và hoằng truyền giáo lý về Kho tàng của A-tỳ-đạt-ma. Ở Tây Tạng, có câu nói rằng “Luật tạng bắt nguồn từ Ja và A-tỳ-đạt-ma bắt nguồn từ Chim,” điều này đề cập đến Chim Tsondru Senge, tác giả của bản bình giảng tiếng Tây Tạng đầu tiên về Kho tàng của A-tỳ-đạt-ma. Một dòng truyền thừa giáo lý đặc biệt của bản văn này được bắt đầu với Sakya Pandita, người đã được Khache Panchen Shakya Shri giảng dạy Kho tàng của A-tỳ-đạt-ma. Tóm lại, các dòng truyền thừa giáo lý của Kho tàng của A-tỳ-đạt-ma vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay, và tất cả các trường phái chính của Phật giáo Tây Tạng đều có những bản bình giảng về nó.

NHÂN MINH LƯỢNG LUẬN

TRUYỀN THỐNG NHÂN MINH LƯỢNG LUẬN TẠI ẤN ĐỘ

Nhìn chung, người ta cho rằng Pramana, hay Nhân Minh Lượng Luận, là một môn học phổ thông chứ không phải là một chủ đề thuộc về nội minh hay tâm linh. Tuy nhiên, theo Khechok Ngawang Chodrak, các luận thuyết về Nhân Minh Luận của Phật giáo nên được đưa vào trong các giáo lý tâm linh.

Tương tự như vậy, Ngài Tsongkhapa (Tông Khách Ba) đã nói rằng Nhân Minh Lượng Luận của Phật giáo là một chủ đề tâm linh bởi vì nó xua tan tà kiến và mang lại một sự hiểu biết không nhầm lẫn về Tứ Diệu Đế. Trong các giáo lý của Đức Phật, nhận thức hợp lý của hiện lượng (nhận thức trực tiếp) được dạy rất rõ ràng, và nhận thức hợp lý của tỷ lượng (thông qua suy luận) được dạy một cách gián tiếp thông qua lý luận.

Biện Luận (Dialectics) của ngài Thế Thân (Vasubandhu) được coi là tác phẩm kinh điển đầu tiên về Lượng Luận của Phật giáo tại Ấn Độ. Có hai quan điểm về danh tính thực sự của tác giả—một số học giả nói rằng nó được viết bởi một đạo sư A-tỳ-đạt-ma nổi tiếng là Thế Thân, và những người khác nói rằng nó được viết bởi một người khác có cùng tên. Đạo sư Trần Na (Dignaga) đã viết 108 bản văn khác nhau về Nhân Minh Lượng Luận, chẳng hạn như Quán Sở Duyên Luận. Khi ngài nhận thấy rằng 108 bản văn của mình không chứa đựng toàn bộ hệ thống nhận thức luận, ngài đã viết Tập Lượng Luận còn được gọi là Khảo Luận Về Nhận Thức Đúng Đắn bao gồm sáu chương.

Đạo sư Pháp Xứng (Dharmakirti) đã viết bảy bản bình giảng về Tập Lượng Luận của Trần Na, và chúng được gọi chung là Bảy Bản Văn Về Nhận Thức Đúng Đắn. Có ba bản bình giảng chính với độ dài khác nhau: bản chi tiết Thích Lượng Luận, bản độ dài trung bình Lượng Quyết Định Luận, và bản cô đọng Chính Lý Nhất Đích Luận. Tiếp đó, có bốn bản bình giảng nhánh: Quán Tương Thuộc Luận, Luận Lý Nhất Đích Luận, Tranh Luận Lý Môn Luận, và Thành Tha Tướng Tục Luận. Thông qua bảy bản bình giảng này, ngài Pháp Xứng đã mở ra con đường vĩ đại cho việc nghiên cứu về nhận thức luận của Phật giáo.

Ngài Pháp Xứng đã yêu cầu học trò chính của mình là Devindramati viết các bản bình giảng về bảy cuốn sách của ngài. Pháp Xứng đã viết một bản tự bình giảng về chương đầu tiên trong cuốn Thích Lượng Luận của ngài, vì vậy Devindramati đã sử dụng bản tự bình giảng của Pháp Xứng làm chương đầu tiên cho bản bình giảng của riêng mình, mang tên là Mười Hai Ngàn Bài Kệ Về Nhận Thức Đúng Đắn. Sau đó, học trò của Devindramati là Shakyamati, đã viết một bản bình giảng về cuốn Mười Hai Ngàn Bài Kệ.

Đạo sư Vinitadeva, một học giả vĩ đại khác vào thời điểm đó, đã viết một bản bình giảng về tất cả bảy bản bình giảng của Pháp Xứng. Gyen Khenpo Sherap Jungne, người thường được gọi ngắn gọn là Gyen Khenpo, đã viết một bản bình giảng về cuốn Thích Lượng Luận, ngài gọi nó là Mười Tám Ngàn Bài Kệ Về Nhận Thức Đúng Đắn. Ngài giải thích ý nghĩa có chủ đích của nhận thức luận chính là triết học Trung Quán (Madhyamaka). Các bậc đạo sư Jina, Ravigupta, và Jamari xứ Kashmir, người còn được gọi là Tarkika Yamari, đã nối gót Gyen Khenpo trong việc giải thích các tác phẩm của Pháp Xứng từ quan điểm của Trung Quán.

Đạo sư Dharmottara, người được biết đến với tên gọi Gyal Nga Sumpa trong tiếng Tây Tạng, đã viết một vài bản bình giảng về các cuốn sách của Pháp Xứng. Bản bình giảng của ngài về bản văn có độ dài trung bình Lượng Quyết Định Luận được gọi là Đại Giải Trình Về Lý Luận và bản bình giảng của ngài về cuốn Chính Lý Nhất Đích Luận được gọi là Lợi Ích Cho Học Trò.

Sau đó, vị khenpo vĩ đại Shantarakshita (Tịch Hộ) đã tiếp thu ý nghĩa của các bản văn trước đó về Nhân Minh Lượng Luận và viết một bản văn mang tên Tóm Tắt Về Chân Như. Kamalashila (Liên Hoa Giới) đã viết một bản bình giảng về bản văn đó, ngài gọi là Đại Giải Trình Về Nhận Thức Đúng Đắn. Cuốn sách này vẫn còn tồn tại bằng tiếng Phạn, và các học giả tiếng Phạn đương đại ở Varanasi coi nó thậm chí còn vĩ đại hơn cả những tác phẩm của Trần Na và Pháp Xứng. Một số lượng lớn các bản bình giảng nhỏ về Nhận thức luận cũng đã được viết ở Ấn Độ bởi Chandragomin (Nguyệt Quan), Sangharakshita, Jetari, Ratnakarashantipa, Prajnakaragupta, Jnanamitra, và nhiều vị khác. Nhiều bản văn trong số này đã được dịch sang tiếng Tây Tạng.

CÁC DÒNG TRUYỀN THỪA CỦA NHÂN MINH LƯỢNG LUẬN TẠI TÂY TẠNG

Việc nghiên cứu về nhận thức đúng đắn đã bắt đầu ở Tây Tạng trong thời kỳ Cựu dịch vào thế kỷ thứ tám, khi Kawa Paltsek, Drenpa Namkha, và những vị khác dịch một số bản bình giảng nhỏ hơn của ngài Pháp Xứng. Trong thời kỳ hoằng truyền giáo lý sau này (thời Tân dịch), bắt đầu vào thế kỷ thứ mười, Shama Sengyal đã dịch cuốn Tập Lượng Luận của ngài Trần Na. Ma Ge-we Lodro đã dịch cuốn Thích Lượng Luận của ngài Pháp Xứng và Mười Hai Ngàn Bài Kệ Về Nhận Thức Đúng Đắn của Devindramati.

Khyungpo Drakse và những vị khác đã hoằng truyền dòng truyền thừa giáo lý này ở một mức độ nhất định, và nó được gọi là Nyingma Tsema, hay Dòng Truyền Thừa Cũ về Nhân Minh Lượng Luận.

Sau đó, vào thế kỷ thứ mười một, Ngok Lotsawa Loden Sherap đã thực hiện một số thay đổi trong các bản dịch này, và dịch lại cuốn Lượng Quyết Định Luận và Chính Lý Nhất Đích Luận của Pháp Xứng. Ngok Lotsawa cũng bắt đầu chính thức giảng dạy về nhận thức luận, chủ yếu dựa theo hệ thống của Gyen Khenpo và Dharmottara. Dòng truyền thừa giáo lý của ngài được gọi là Sarma Tsema, hay Dòng Truyền Thừa Mới về Nhân Minh Luận.

Bậc nắm giữ chính của dòng truyền thừa Sarma Tsema là Chapa Chokyi Senge, người sống vào thế kỷ thứ mười hai. Ngài đã viết cuốn Xua Tan Bóng Tối Của Tâm, một cuốn sách cô đọng các giáo lý về Lượng Luận. Chapa đã mở một trường học để nghiên cứu về nhận thức luận, và bản văn của ngài đã trở thành cẩm nang tranh luận đầu tiên.

Mặc dù có nhiều học giả đã dịch các tài liệu về nhận thức luận, nhưng các dòng truyền thừa giáo lý chính vẫn là dòng Sarma Tsema do Ngok Lotsawa khởi xướng, và dòng truyền thừa bắt nguồn từ Sakya Pandita. Sakya Pandita Kunga Gyaltsen và Khache Panchen Shakya Shri đã dịch và biên tập một phiên bản mới cho cuốn Thích Lượng Luận của Pháp Xứng. Sakya Pandita đã viết một bản văn gốc và bản tự bình giảng quan trọng mang tên Kho Tàng Luận Lý Về Nhận Thức Đúng Đắn, cô đọng tất cả bảy cuốn sách của Pháp Xứng về nhận thức luận.

Sakya Pandita có một số lượng lớn học trò ở Ấn Độ, Tây Tạng, và các quốc gia khác. Những bậc nắm giữ chính về sự hiểu biết qua kinh nghiệm của ngài là Tsok, Drup, và On. Những bậc nắm giữ các giáo huấn cốt tủy của ngài là Lo, Mar, và những vị khác. Những bậc nắm giữ chính đối với giáo lý của ngài về nhận thức luận là Shar, Nup, và Gung. Những tên gọi viết tắt này ám chỉ đến Sharpa Sherap Jungne và anh trai ngài là Dorje Ozer, Nupa Uyugpa Rigpe Senge, và Gungpa Kyoton Tri-me. Các ngài và những vị khác đã hoằng truyền giáo lý của Sakya Pandita về Pramana một cách vô cùng rộng rãi. Cháu trai của Uyugpa, Nyithogpa Sangye Kunmon, cũng có rất nhiều học trò, và trong số đó có những vị được xưng tụng là Bốn Trụ Cột Vĩ Đại: Khangton Ozer Gyaltsen, Nyen Darma Senge, Shang Do-de Pal, và Zur Khangpa Kar Shakya Dragpa.

Học trò của các ngài đã hoằng truyền giáo lý này đi xa hơn nữa. Một học trò chính khác của Sakya Pandita là Lhopa Rinchen Pal, đã viết một số giáo trình về nhận thức luận. Dòng truyền thừa của ngài và của Uyugpa đã duy trì sự lớn mạnh trong một thời gian dài. Theo thời gian, các dòng truyền thừa này đã sản sinh ra nhiều bậc đạo sư vĩ đại, chẳng hạn như Jamyang Kyapo, Lochenpo, Choje Lama Dampa, và Nya On Kunga Pal.

Nya On đặc biệt xuất sắc về Nhân Minh Lượng Luận, vì vậy ở Tây Tạng có câu nói rằng “Pramana bắt nguồn từ Nya.” Nhiều bậc đạo sư vĩ đại xuất thân từ dòng truyền thừa của Nya, bao gồm học trò của ngài là Yak Mipham Chokyi Lama, và sau đó là Rongton Sheja Kunzik, Jamchen Rabjampa Sangye Phel, Gorampa Sonam Senge, và những vị khác. Từ học trò của Rongton là Je Donyo Palwa, đã xuất hiện các học giả vĩ đại khác như Panchen Shakya Chogden. Học trò chính về nhận thức luận của Choje Lama Dampa là Lochen Jetse, và học trò chính của vị này là Lochen Dragpa. Từ truyền thống đó đã xuất hiện Bodong Kunkhyen, một học giả vĩ đại, người đã viết cuốn Ánh Sáng Lý Luận Về Nhận Thức Đúng Đắn và thiết lập một hệ thống giáo lý mới khác.

Sau đó, từ Shang Do-de Pal, giáo lý được truyền cho Khepa Norzang Pal, từ đó truyền cho Nyak On, rồi tới Rendawa Shonu Lodro, và từ ngài truyền cho Je Tsongkhapa (Tông Khách Ba). Từ Tsongkhapa, giáo lý được truyền cho Gyaltsap Darma Rinchen và Khedrup Gelek Palzang. Dòng truyền thừa Nhân Minh Lượng Luận của các ngài không hề suy giảm; nó tiếp tục vang dội như tiếng gầm của sư tử. Sau đó, vào thế kỷ thứ mười lăm, vị Karmapa đời thứ bảy, Chodrak Gyatso, đã viết một cuốn sách có tên là Đại Dương Các Bản Văn Về Nhận Thức Đúng Đắn, bao hàm ý nghĩa của tất cả bảy cuốn sách về nhận thức luận của ngài Pháp Xứng. Dòng truyền thừa giáo lý của vị Karmapa đời thứ bảy cũng vẫn còn tồn tại.

Liên quan đến những cái thấy triết học được thể hiện trong các tài liệu về nhận thức luận, Jamgon Kongtrul nói rằng có ba cách để phân loại Nhân Minh Lượng Luận ở Tây Tạng. Trường phái Sakya mô tả nó như là Duy Thức Trung Quán (Yogachara Madhyamaka), Ngok Lotsawa mô tả nó là Trung Quán thể hiện tính vô tự tánh và hầu hết những người khác mô tả nó là Trung Quán phù hợp với cách những người bình thường nhìn nhận sự vật. Cũng có ba cách thức để giảng dạy các tài liệu về nhận thức luận.

Gorampa nói rằng:

Ở vùng núi tuyết có ba cách giảng dạy

Các kinh điển của hai bậc trang hoàng vương miện trên đầu về nhận thức hợp lý:

Một là hợp nhất bảy cuốn sách của Pháp Xứng thành một,

Hai là trích xuất những điểm trọng tâm từ các bản bình giảng khác nhau của Ấn Độ,

Và cách thứ ba là giảng dạy từ sự phân tích của chính mình.

Cách đầu tiên trong số này là phong cách giảng dạy của Sakya Pandita, người đã giảng dạy bằng cách hợp nhất những điểm chính yếu nằm rải rác trong Tập Lượng Luận, bảy cuốn sách của Pháp Xứng, và bản tự bình giảng của ngài Pháp Xứng về chương đầu tiên của cuốn Thích Lượng Luận. Hầu hết các học giả Tây Tạng đã giảng dạy theo cách thứ hai, cô đọng những điểm xuất sắc nhất của các nhà bình giảng Ấn Độ chẳng hạn như Devindramati, Shakyamati, Gyen Khenpo, và Dharmottara. Cách thứ ba được minh họa bởi Gyaltsap Je và Khedrup Je, những người đã đặt việc giảng dạy của họ dựa vào lý luận và sự phân tích của chính mình. Ba cách giảng dạy các tài liệu về nhận thức luận của Phật giáo này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay

Ảnh nguồn internet

Bài viết liên quan