BA TÁNH VÀ CHÂN NHƯ
Nguyễn Thế Đăng
.jpg)
1/ Thế nào là thức biến
- Hoạt động của năm giác quan dựa trên ba yếu tố: giác quan (căn), đối tượng vật chất của giác quan (trần) và thức của giác quan ấy.
- Giác quan diễn dịch một thế giới nguyên tử và lượng tử thành sắc (vật chất), âm thanh, hương, vị, xúc. Vật chất gần như trống không, khoảng cách giữa nhân nguyên tử và các electron chung quanh hạt nhân là cực kỳ lớn, khiến nguyên tử gần như trống rỗng.
Màu sắc là cách diễn giải những bước sóng ánh sáng khác nhau được hấp thụ và phản xạ từ một vật. Màu vàng chúng ta nhìn thấy là do não bộ của chúng ta trộn tín hiệu của ánh sáng đỏ và ánh sáng xanh lá cây. Màu vàng không có trong thực tế, nó chỉ do não bộ chế biến ra.
Đối tượng của các giác quan tùy thuộc cơ cấu của giác quan, tùy thuộc vào sự dẫn truyền tín hiệu – điện từ, hóa, sinh – và sự giải mã của não bộ.
Các thức là hệ thần kinh của giác quan, hệ thần kinh dẫn truyền từ giác quan đến não bộ và sự hoạt động giải mã, chế biến của não bộ.
Như vậy, căn trần thức là những hệ thần kinh, tức là cơ sở thần kinh thấy được của các thức. Những kinh nghiệm giác quan của đời sống con người đều do thức, sự chế biến, diễn dịch của thức.
- Đối tượng của ý thức là pháp, nghĩa là tất cả sự vật, hữu hình cũng như vô hình (những khái niệm, tư duy trừu tượng). Tầm hoạt động, hiểu biết của ý thức rộng lớn hơn của năm giác quan rất nhiều. Ý thức là “liễu biệt cảnh”, rõ ràng phân biệt những đối tượng (cảnh).
Con người hơn các sinh vật khác là nhờ ý thức này. Sự biểu lộ rõ ràng của ý thức chính là những ý tưởng, là những niệm. Ý thức bao gồm hai cái chính mà ngày nay thường hay nói, đó là chỉ số thông minh và trí tuệ cảm xúc. Ngoài ra nó còn bao gồm ý chí, những đức tính như kiên nhẫn, rộng lượng, những tính tốt và cả tính xấu đã được huân tập trong cuộc đời. Học hỏi để tiến bộ là công việc của ý thức.
Sự tự hoàn thiện, nói theo từ xưa là tu tập, khởi từ ý thức và hoạt động chủ yếu ở ý thức rồi dần dần lan qua các thức khác, mạt na và a lại da.
Nhưng ý thức có những giới hạn, như không thể nghĩ về nhiều sự vật, sự việc cùng một lúc. Thế nên, tự thân ý thức không thể đạt đến cái toàn thể. Hơn nữa ý thức thường trực bị nhiễm ô (vì thường trực sống ở đời) bởi những phiền não tham sân si…, do đó cái thấy về các hiện tượng (các pháp) thường bị méo mó, thiên lệch. Và vì bị nhiễm ô, nó thường lăng xăng, khó điều khiển.
Ý thức hoạt động thường xuyên nên nó thường xuyên hoạt động tiến trình huân tập hạt giống (chủng tử) để rồi sẽ sinh hiện hành và hiện hành để huân tập hạt giống. Những hoạt động ấy gọi là thức biến.
Thực hành là thực hành ngay nơi ý thức này, cho nên đạo Phật có Bốn Niệm xứ Thân, Thọ, Tâm, Pháp để vừa đối trị vừa khai mở trí huệ tiềm ẩn nơi con người. Ngoài ra, có thiền định (chỉ), thiền quán (quán) và cả hai đồng thời. Bồ tát hạnh là để cởi mở khỏi chấp ngã (tích tập trí huệ) của ý thức và làm lợi ích cho người khác để tích tập công đức.
- Thức thứ bảy mạt na là thức chấp ngã. Người ta kinh nghiệm thức chấp ngã này khi nó khởi lên ngã si (vô minh về cái tôi), ngã kiến (thấy có cái tôi), ngã mạn ( cái tôi kiêu mạn), và ngã ái (yêu cái tôi).
Nếu như ý thức hoạt động phân biệt khi có đối tượng (cảnh), có tôi thì có cảnh, có cảnh thì có tôi; thì thức mạt na không chờ có đối tượng vẫn âm thầm hiện hữu, trôi chảy như một dòng sông. Sở dĩ như thế vì thức mạt na sống bằng sự trôi chảy không dứt của thức A lại da và gắn liền với nó.
Sự phân biệt, tư duy, so lường (“tư lương”) vi tế hơn ý thức (“liễu biệt cảnh”) nhiều, và nó bao trùm, hơn ý thức, nên nó chỉ huy ý thức.
Thức mạt na âm thầm trôi chảy chuyển động và âm thầm biến thành phân biệt ngã và pháp. Chấm dứt thức mạt na, tất cả trở lại thực tế là vô ngã vô pháp, đây chính là pháp giới Viên thành thật.
- A lại da là thức nền tảng, nuôi dưỡng các thức khác và do đó, nuôi dưỡng thế giới sai biệt, ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng (ta, người, chúng sanh, thọ mạng).
Ai cũng biết là mình có trí nhớ, những dấu in tốt xấu, những hạt giống đã rơi vào “kho chứa” (tạng) của tâm thức mình. Nhưng trí nhớ ấy, những trải nghiệm ấy được chứa ở đâu, trong não bộ, trong các tế bào thân thể, trong gène? Khoa học chưa trả lời được. Nhưng Phật giáo nói rằng những ấn tượng ấy nằm trong tạng thức A lại da, chúng có khi ngủ yên và có khi trà trộn vào trong giấc mộng, có khi biểu lộ ra nơi các giác quan, trong mối tương quan xã hội hàng ngày.
Duy thức học có mục tiêu là hiểu sự hoạt động của các thức để chuyển hóa những hạt giống hư, gây độc hại thành những hạt giống tốt cho “cây đời mãi mãi xanh tươi” (Goethe). Đây là điều Đại thừa nói “chuyển thức thành trí, chuyển sanh tử thành Niết bàn”.
Kinh Duy Ma Cật cũng như nhiều kinh khác, nói: “Tùy tâm thanh tịnh tức thế giới thanh tịnh, là sự thanh tịnh của cõi Phật.”
2/ Ba tánh
Trong các kinh thuộc hệ thống Duy thức như Kinh Nhập Lăng Già, Kinh Giải Thâm Mật, Kinh Mật Nghiêm,… cho đến các Luận về sau đều có nói đến Ba Tự tánh, hay Ba tánh.
- Tướng biến kế sở chấp: phân biệt so lường khắp để thành danh tướng và chấp nắm vào đó. Đây là sự tưởng tượng sai lầm, không thật. Thí dụ, sợi dây thừng mà tưởng là con rắn, sóng nắng mà tưởng là nước, như huyễn thuật mà cho là có thật… Đây là thế giới ảo tưởng, hư vọng, không thật mà lạc vào đó và chấp là hoàn toàn thật sẽ tạo ra tất cả phiền não khổ đau.
Nhưng nếu chấp vào cực đoan bãi bỏ danh tướng của chân lý tương đối và quy ước thì người ta sẽ rơi vào một thế giới, một xã hội hỗn loạn. Danh tướng có giá trị tương đối và quy ước để sống cuộc đời thế gian và cũng chính nhờ vào Biến kế sở chấp danh tướng giả lập người ta mới có thể tìm ra cái thật, là Viên thành thật tánh Chân Như.
- Tướng y tha khởi. Y tha là nương vào cái kia, để chỉ thế giới duyên sanh, tương thuộc. Duyên sanh thì phải có duyên diệt, duyên khởi thì phải có duyên lặng. Theo duyên sanh duyên diệt thì vẫn ở trong vòng sanh diệt, vòng sanh tử. Duyên sanh phải được thấy rõ và chứng biết, khi ấy duyên sanh là tánh Không. Thấy được bản chất thế giới mình đang sống là duyên sanh – tánh Không, người ta giải thoát. Như duyên sanh để tìm ra tánh Không vô sanh.
- Tướng viên thành thật. Viên thành thật là thực tướng Chân Như, cũng là bản tánh thanh tịnh của tâm thức. Các kinh của hệ Duy thức cũng gọi thực tại này là Pháp thân tánh Không, và các kinh ấy đều nói đến Mười Địa, là con đường đạt đến “Pháp thân viên mãn”.
Những thí dụ sóng nắng, thành Càn thát bà, hoa giữa hư không, lông rùa, sừng thỏ, người gỗ, gái đá… đều có trong cả hai Tông, Không tông (chủ yếu dựa vào Kinh Đại Bát Nhã) và Duy thức tông. Tánh Không, Chân Như đều là mục đích chứng ngộ của hai Tông. Điều đó cho thấy hai tông đều có cùng mục đích, chỉ có điều là Không tông thì khởi đầu bằng quán sát thế giới sắc thanh hương vị xúc pháp… để đi đến tánh Không, Chân Như, còn Duy thức tông thì lấy thức làm điểm khởi đầu, và thức này tạo ra thế giới sắc thanh hương vị xúc pháp. Biết thức như huyễn không thật, người ta sẽ thấy và sống trong tánh Không, Chân Như.
Một điều khiến đạo Phật thường bị hiểu lầm cho là bi quan, chán đời, xả bỏ tất cả, là quan niệm như huyễn như mộng trong Biến kế sở chấp.
Như huyễn, như mộng, không có nghĩa là hư vô chủ nghĩa, đoạn kiến. Ngày xưa đã từng có người phản biện rằng ông nói như huyễn thế thì con voi chạy tới ông đừng tránh nó. Cần phải thấy rằng như huyễn như mộng để người hành Bồ tát đạo thấy thế giới không dính dáng gì đến mình, không bị ám ảnh mà trôi lăn theo nó. Nhưng người ấy vẫn phải ở trong thế giới ấy, tuân theo những quy luật và quy ước của nó để có thể sống và giúp ích cho người khác, để duy trì Phật pháp khiến tồn tại thế gian.
Có câu nói, “Bồ tát không phá hoại tướng thế gian để đạt đến thực tại tối hậu là tánh Không, Chân Như”.
Thế nên, cần phải hiểu chữ “như” trong như huyễn, như mộng, Đó là con đường Bồ tát, đi giữa thế gian, đi cùng với con người mà không bị nhiễm ô và gây nghiệp do chấp thực. Đây là con đường Trung đạo của Bồ tát.
3/ Nền tảng chung
Khi tám thức, từ năm thức giác quan cho đến A lại da đều biến hiện theo từng cá nhân như vậy, thì đâu là một nền tảng chung cho tất cả mọi người? Có chăng một thức nào, một thực tại nào, có thể chứa đựng và dung hòa mọi A lại da khác biệt để người ta có thể nối kết với nhau, để không còn chia cắt và chia cách?
Kinh Đại thừa Mật Nghiêm (Địa Bà Ha La dịch, đời Đường):
Thế Tôn thuyết thức này
Để trừ các tập khí
Hiểu biết, giải thoát rồi
Thức này cũng chẳng có.
Lại da có thể được
Giải thoát, chẳng thường còn
Tạng Như Lai thanh tịnh
Cũng gọi trí vô cấu.
Thường trụ không đầu, cuối
Lìa tứ cú, ngôn từ
Phật thuyết Như Lai tạng
Dụng là A lại da.
Ác tuệ không thể biết
Tạng thức A lại da
Như Lai tạng thanh tịnh
A lại da thế gian
Như vàng ròng và nhẫn
Tương đương không sai khác…
(A lại da vi mật, phẩm 8).
Tạng thức A lại da chính là Như Lai tạng thanh tịnh.
“Phật thuyết Như Lai tạng, dụng là A lại da”: A Lại da, khi không bị ô nhiễm bởi phiền não chướng và sở tri chướng, là cái dụng của Như Lai tạng. Như vàng ròng và các đồ vật làm bằng vàng, tất cả chỉ là một vị vàng ròng, không có mảy may sai khác, không có một kẻ hở nào để cho phân biệt hư vọng hoành thành.
Cái dụng là sự thể hiện, sự biểu lộ không bị ô nhiễm – nghĩa là trong sạch – của Như Lai tạng, tánh Không, Chân Như. Như bóng là cái dụng của gương, là sự biểu lộ phong phú và thanh tịnh của gương. Như vô số sóng của các thức của chúng sanh đồng một vị là nước đại dương biển Trí.
Cho nên khi thấy trực tiếp A lại da và sự biến hiện của nó chính là Như Lai tạng, người ta được chuyển hóa tức thời thức thành trí, vì từ xưa nay thức vẫn là trí.
Nói cách khác, tất cả tướng vốn là tánh, tất cả thức vốn là trí, tất cả bóng vốn là gương, tất cả sóng vốn là đại dương bất động.
Duy thức đưa hành giả đến thực tại như vậy.
Qua những điều trên, chúng ta thấy Duy thức giúp cho sự tiến hóa của con người, đi từ cái giả đến cái thật. Có nhiều người lầm tưởng rằng khi duy thức nói “như huyễn, như mộng”, bèn suy nghĩ một cách ngây thơ là đạo Phật ‘chán đời, lánh đời’.
Nhìn tổng thể, Duy thức diễn tả biện chứng tiến hóa của con người: từ cái giả, mê mờ cái không thật (biến kế sở chấp), từ vô tri giác, không biết (vô minh) đến sự thức tỉnh, phản tỉnh (y tha khởi) biết thế giới, mình – người là duyên sanh, cho nên tương đối, và đến hiểu biết chân lý rốt ráo (viên thành thật) là Chân Như.
Thế nên, Duy thức nói đến sự chiến thắng và vinh quang tối hậu của con người. Từ thế giới lượng tử căn bản, không có không – thời gian, không có ý thức, đến con người hạnh phúc và khổ đau vì sống trong không – thời gian tương đối của ý thức, và cuối cùng, đi vào và sống trong Sự Thật tối hậu của vũ trụ.

.jpg)
