KHI TẤT CẢ CÁC PHÁP ĐỀU LÀ PHẬT PHÁP - HAKUUN YASUTANI - HOA RƠI

KHI TẤT CẢ CÁC PHÁP ĐỀU LÀ PHẬT PHÁP

HAKUUN YASUTANI

Trích: Hoa Rơi - Một Bình Giảng Về Hiện Thành Công Án của Thiền Sư Đạo Nguyên; Paul Jaffe chuyển ngữ Tiếng Anh, Thông Quang dịch Việt; NXB Thiện Tri Thức.

---o0o---

Khi tất cả các pháp đều là Phật pháp tức có mê có ngộ, có tu tập, có sinh, có tử, có chư Phật và có chúng sanh. Khi vạn pháp tất cả đều vô ngã thì không mê không ngộ, không chư Phật, không chúng sanh, không sanh và không tử. Vì Phật đạo vốn vượt qua nhiều và thiếu, nên có sanh và diệt, có mê và ngộ, có chúng sanh và chư Phật.
KHI TẤT CẢ CÁC PHÁP ĐỀU LÀ PHẬT PHÁP - HAKUUN YASUTANI - HOA RƠI

"Khi tất cả các pháp đều là Phật pháp" và "khi vạn pháp tất cả đều vô ngã" đối đầu với nhau. Đây chỉ là một Phật pháp được diễn đạt theo hai cách. Về điểm này, tôi đã thử đọc sách của nhiều tác giả hiện đại khác nhau, nhưng tất cả đều thừa thãi và chúng ta khó có thể tìm được chỗ nào thể hiện trực tiếp tinh thần của bản văn gốc.

Nói theo truyền thống "Khi tất cả các pháp đều là Phật pháp" là "cửa bày hiện những khác biệt". Đó là quan điểm tương đối. Nhưng đó không phải là quan điểm tương đối đơn giản mà người chưa giác ngộ nhìn thấy. Đó là quan điểm tương đối có quan điểm tuyệt đối làm nền tảng. Nói cách khác, nó là cái tương đối ở giữa cái tuyệt đối. Nếu chúng ta quy cái "tương đối ở giữa cái tuyệt đối" này thành ngôn ngữ triết học, và nói "đó là sự khẳng định với sự phủ định làm nền tảng", thì về mặt khái niệm có vẻ dễ nắm bắt, nhưng đó là một vọng tưởng.

Còn "khi vạn pháp tất cả đều vô ngã" là "cửa quét sạch những khác biệt". Đó là quan điểm tuyệt đối. Quan điểm tuyệt đối chắc chắn không thể hình dung được trong tâm của người chưa giác ngộ. Đây cũng không phải là quan điểm tuyệt đối đơn giản; đó là quan điểm tuyệt đối với quan điểm tương đối là nền tảng của nó. Nói cách khác, đó là cái tuyệt đối ở giữa cái tương đối. Nếu bạn diễn đạt điều "tuyệt đối ở giữa cái tương đối" này một cách khái niệm là "phủ định lấy khẳng định làm nền tảng", nó dường như mang lại cho bạn cảm giác hiểu biết, nhưng xét cho cùng thì đó cũng là một vọng tưởng.

Bây giờ, cả hai đều là hiện thành công án (genjökõan) toàn thiện và không phải tương đối. Nhưng đó chỉ là cái nhìn một chiều. Nếu bạn biết quan điểm một chiều là quan điểm một chiều và tiếp nhận nó và coi nó như một quan điểm một chiều thì không sao cả. Nhưng nếu bạn có quan điểm phiến diện, suy nghĩ và cho rằng đó là tất cả thì bạn đã hoàn toàn sai lầm. Lão sư Daiun luôn nói điều này và đó là một nhận thức quan trọng đối với những người đọc kinh Phật.

Thiền sư Nishiari Bokusan rất tự hào khi đưa ra quan điểm rằng hai bước này và bước thứ ba sau đó đều có giá trị như nhau. Sẽ là ổn nếu đó là một lời cảnh báo dành cho người mới bắt đầu, nhưng đó không phải là một nội quán đặc biệt. Đó là nguyên tắc chung của Phật pháp ngay từ đầu. Tuy nhiên, đó là một nguyên tắc chung dựa trên quan điểm phiến diện về sự bình đẳng về nội dung. Khi chúng ta nói từ khía cạnh nhìn thấy sự khác biệt, thực tế là ba bước của đoạn văn này có thứ tự tuần tự, với tầm quan trọng và chiều sâu tương đối, phải được nắm bắt một cách sâu sắc.

Bây giờ, một mặt có "tất cả các pháp" và mặt khác có "vạn pháp", nhưng nó là như nhau. Khi chúng ta gọi tất cả các hiện tượng tinh thần và vật chất là "tất cả các pháp", chúng ta cũng gọi chúng là "vạn pháp". Những điều đó được chia ra và thể hiện như "khi... là Phật pháp" và "khi... không có tự ngã". Cả hai đều là "khi". Đó không phải là một quan điểm. "Khi" đó cũng không phải là chữ khi giả thiết. Đó là khi đối mặt với một kinh nghiệm thực tế sống động như máu rỉ ra từ vết thương. Đó là khi đã đạt đến sự giác ngộ vĩ đại và đã thấu suốt "các pháp đều là Phật pháp". Nói cách khác, đó là khi bạn đã đạt đến sự giác ngộ vĩ đại và thấu suốt sự thật rằng tất cả các pháp là thật tướng, tất cả các pháp đều là Phật tánh, tất cả các pháp là Phật Tỳ-Lô-Giá-Na, tất cả các pháp là vô sự (muji), tất cả các pháp là tự ngã nguyên sơ. Nội dung của chữ khi ấy được diễn tả như "có mê có ngộ, có tu tập, có sinh tử, có chư Phật và có chúng sinh". "Có tu tập" là điều đương nhiên. Cho rằng "có tu tập và có giác ngộ" sẽ không phù hợp. "Có" là gì vậy? Tất nhiên, đó là một từ đối với từ "không có" và không chỉ đơn giản là cố gắng thể hiện "có". Nói cách khác, nếu tỉnh thức và thấy được, thì sự thật là mê và ngộ, tu tập, sinh tử, chư Phật và chúng sinh đều là tự ngã nguyên sơ, hoạt động của tự ngã nguyên sơ, và không có gì khác. Loại hiểu biết này được gọi là tương đối giữa cái tuyệt đối. Theo Tứ Liệu Giản của Thiền sư Lâm Tế, điều này tương đương với đoạt nhân bất đoạt cảnh, và đoạt cảnh bất đoạt nhân. Vậy thì đây vẫn là ánh chớp của sự giác ngộ.

Trong trường hợp đó, Chữ khi trong câu "Khi vạn pháp tất cả đều vô ngã" là chữ khi nào. Đó là lúc sự giác ngộ đã trở nên sâu sắc và rõ ràng hơn một bước so với trước đây. Nói cách khác, đó là lúc ánh sáng giác ngộ dần dần trở nên dịu hòa. Với bước trước đó có một cái gì đó tỏa sáng có mùi hăng nồng của sự giác ngộ, trong đó tất cả các pháp là Phật pháp và tất cả sự hiện hữu là chính mình. Căn bệnh vọng tưởng từ vô thủy đã nghĩ rằng mình và người là khác nhau, rằng mình và người đối lập nhau, lúc ấy được chữa lành hoàn toàn, và bây giờ nó giống như đổ tràn chai thuốc của sự nhận ra rằng mình và người là một thân, mọi thứ đều là chính mình.

Chữ khi của việc dọn dẹp sau chai thuốc đó là "khi vạn pháp tất cả đều vô ngã". Đó là khi "mình" và "người" đã hoàn toàn biến mất. Đó là lúc dấu vết giác ngộ đã chấm dứt. Đó là khi bạn đã thực sự thấu hiểu "xưa nay không một vật". Đó là "cả nhân lẫn cảnh đều đoạt". Vì thế nó là "không mê, không ngộ, không chư Phật, không chúng sanh, không sanh và không diệt". Nó không phải là tự nhiên sao? Không có gì khó để gãi đầu. Đó là khi, lần đầu có được một cái chết vĩ đại, thậm chí không có một chút mây che khuất tầm mắt. Đó là khi có bóng tối bao la. Đó là cảnh giới hoàn toàn không được biết tới ngay cả bởi tất cả chư Phật trong ba cõi.

Bất cứ ai tưởng tượng một cách kỳ lạ về cảnh giới này và bị đánh lừa, nảy sinh ảo tưởng rằng mình đã hiểu hoặc đang đạt đến mức sắp hiểu được nó, đều là một kẻ ngu dốt. Ngay cả câu nói của Khổng Tử: "Không biết thì nói không biết; ấy là hiểu biết", khi chúng được đưa đi xa đến mức này, chúng trở thành một thứ vô hạn. Những ai đã thâm nhập vào vô sự (muji) cũng xin hãy nắm rõ cội nguồn và quan điểm của vô sự (muji). Có sự khác biệt về chiều sâu và sự sáng tỏ, nhưng mạng mạch thì như nhau.

Bây giờ chúng ta hãy so sánh điều này với công án "Nước nhà Phong Huyệt", tắc 61 của Bích Nham Lục. Phần bình luận của "Nước nhà Phong Huyệt" nói: "Nếu lập một hạt bụi thì nước nhà hưng thịnh và lão quê nhăn nhó. Nếu không lập một hạt bụi thì nước nhà sẽ suy vong và lão quê ca hát". Nửa đầu là "cửa hiện bày những khác biệt"; đó là "khi tất cả các pháp đều là Phật pháp". Nửa sau là "cửa quét sạch những khác biệt"; đó là "khi vạn pháp đều vô ngã". Tuy nhiên, khi chúng ta nói "Đó là cửa của sự hiện bày" và "Đó là cửa của sự quét sạch", thì nó trở thành hai điều. Nó vẫn còn chưa chín. Nó nửa sống, nửa chết. Nó không trở thành chân lý thực sự sống động. Sau đó, để chứng tỏ chân lý sống động, Ngài Tuyết Đậu không khỏi vung cây gậy của mình. Đó là điều xảy ra trong công án "Nước nhà Phong Huyệt".

Trong Hiện thành công án (Genjökõan), Ngài Tuyết Đậu giơ gậy lên được Thiền sư Đạo Nguyên thể hiện ở bước thứ ba sau đây. "Vì vốn đã vượt ra ngoài thừa và thiếu, nên Phật đạo có sanh và tử, mê và ngộ, chúng sanh và chư Phật". "Thừa" là "khi tất cả các pháp đều là Phật pháp". Đó là khi "có". "Thiếu" là "khi vạn pháp tất cả đều vô ngã". Đó là khi "không có". Nói từ quan điểm ý nghĩa, cả hai khi này đều là giác ngộ tối thượng (bồ-đề, bodhi). Chúng là tự ngã nguyên sơ. Vì thế chúng có giá trị như nhau, nhưng nhìn về mặt hình thức thì cả thừa và thiếu vẫn là những chứng ngộ chưa hoàn toàn, hơn nữa, mặt thừa thì cạn cợt, mặt thiếu thì sâu thẳm. Đây là khía cạnh kinh nghiệm; nói cách khác là nói từ con đường tu tập.

Xét theo quan điểm nội tại thì nó như thế nào? Không cần phải nói cũng biết rằng việc vượt qua thừa và thiếu chính là chân lý thực sự. Việc hiện bày và quét sạch đều hoàn toàn vượt qua. Ngay từ đầu mọi thứ đã hoàn toàn siêu việt. Nhưng hai cửa hiện bày và quét sạch tự nhiên xuất hiện không cần thiết đối với khía cạnh kinh nghiệm chuyển hóa mê lầm thành giác ngộ. Vì vậy, khi bạn trở về tự ngã nguyên sơ, bạn trở thành con người hoàn toàn siêu việt bổn nguyên mà bạn luôn là. "Có sanh và tử, mê và ngộ, chúng sanh và chư Phật". "Cả nhân lẫn cảnh đều bất đoạt".

Bây giờ ý nghĩa của "có" ở bước đầu tiên và ý nghĩa của "có" ở bước thứ ba là khác nhau. Bước đầu tiên là "có" "đoạt nhân bất đoạt cảnh" và "đoạt cảnh bất đoạt nhân". Ở bước thứ ba, đó là "có" của "cả nhân lẫn cảnh đều bất đoạt". Cái "không" của bước thứ hai "Cả nhân lẫn cảnh đều đoạt" đã được thông qua. Những điểm tuyệt vời này cần được mỗi người thực sự thâm nhập và thực sự tìm hiểu. Tôi quá tử tế vì tôi đã mất hết đức hạnh. Tôi đã mất mát rất nhiều rồi, nhưng không thể tránh được. Việc làm ăn chỉ thua lỗ không có ý nghĩa gì nhiều, phải không? Nhưng sợ mất lông mày nên tôi sẽ tiếp tục và phải trả giá. Với điều này, bản phác thảo đã được hoàn thành, nhưng cho đến đây nó vẫn là phần giảng giải. Giảng giải là những lời chết. Thế nên Đạo Nguyên diễn đạt những lời sống. Tôi sẽ nói lại lần nữa. Những gì đã được chỉ ra ở đây là giảng giải về Hiện thành công án (Genjokoan). Từ đây ngài đưa tới diễn tả của hiện thành công án (genjökõan) sống động.

 

Bài viết liên quan