ĐẠI TỪ BI LÀ THỂ TÁNH CỦA BỒ TÁT
Nguyễn Thế Đăng
-------o0o-------

1/ Con đường Bồ tát gồm tánh Không và từ bi.
Con đường Bồ tát gồm hai yếu tố chính: trí huệ tánh Không và từ bi hóa độ chúng sanh. Từ địa thứ nhất, tánh Không và từ bi đã kết hợp với nhau:
“Bồ tát địa thứ nhất lấy đại bi làm đầu, chí nguyện rộng lớn không gì cản trở phá hoại được. Lại càng siêng tu tất cả thiện căn cho được thành tựu...Bồ tát thấy chúng sanh không thể thoát khỏi quả khổ như vậy, liền phát sanh đại bi trí huệ, tự nghĩ rằng: Tôi phải cứu vớt tất cả chúng sanh này, đặt họ ở chỗ rốt ráo an vui. Do vì suy nghĩ phát tâm như vậy nên sanh ra trí huệ quang minh đại từ”.
(Phẩm Thập địa, thứ 26)
Đến đích Giác ngộ là trí huệ tánh Không tròn vẹn, viên mãn. Còn từ bi có ở đích giác ngộ không, hay nó chỉ là một phương tiện sẽ bị loại bỏ lại trên đường?
Trong kinh Đại Bát Nhã, một kinh hoàn toàn nói về trí huệ tánh Không thì khi nói đến Phật, quả vị, đích đến cuối cùng bao giờ cũng có đại từ, đại bi. Phật là “nhất thiết chủng trí, thập lực, tứ vô sở úy, tứ vô ngại trí, thập bát bất cọng pháp, đại từ, đại bi”.
Trí huệ tánh Không và đại từ đại bi luôn luôn đi chung với nhau nơi một Bồ tát, như hai chân cùng đi trên một con đường.
“Chư Phật tử! Đại Bồ tát phát mười tâm Phổ Hiền:
Phát tâm đại từ, vì cứu hộ tất cả chúng sanh.
Phát tâm đại bi, vì chịu khổ thay cho tất cả chúng sanh.
Phát tâm cho đi tất cả, vì đều xả bỏ tất cả sở hữu.
Phát tâm nhớ Nhất thiết trí (trí huệ tánh Không) làm trước nhất, vì thích cầu tất cả Phật pháp.
Phát tâm công đức trang nghiêm, vì học tất cả hạnh Bồ tát.
Phát tâm như kim cương, vì tất cả chỗ thọ sanh không quên mất.
Phát tâm như biển, vì tất cả pháp trắng sạch đều chảy vào.
Phát tâm như núi Tu Di, vì tất cả lời ác đều nhẫn thọ.
Phát tâm an ổn, vì ban sự không sợ hãi cho tất cả chúng sanh.
Phát tâm Trí huệ tánh Không ba la mật rốt ráo, vì khéo quán sát tất cả pháp là vô sở hữu”.
(Phẩm Lìa thế gian, thứ 38).
Nhưng trí huệ tánh không, thậm chí thấy chúng sanh như huyễn, như mộng, và lòng từ bi đối với chúng sanh, hai thực thể đó hình như mâu thuẫn, không thể đi cùng nhau.
“Đại Bồ tát biết tất cả chúng sanh, thấy có sanh nhưng vốn không sanh, vì rõ thấu sự thọ sanh bất khả đắc. Nhưng biết nhân, biết duyên, biết sự, biết cảnh giới, biết hạnh, biết sanh, biết diệt, biết mê lầm, biết lìa mê lầm, biết điên đảo, biết lìa điên đảo, biết tạp nhiễm, biết thanh tịnh, biết sanh tử, biết Niết bàn...
Tùy theo sự thích ứng của họ mà giáo hóa đủ cách, chưa từng quên mất hạnh Bồ tát. Vì Bồ tát chỉ vì lợi ích chúng sanh mà phát tâm Giác ngộ vô thượng, không bỏ sót việc làm vì chúng sanh, nên thường giáo hóa chúng sanh nhưng thân không mỏi nhọc, chẳng trái việc làm của tất cả thế gian.
...
Chẳng thấy có chúng sanh, mà hành giáo hóa điều phục thuyết pháp. Nhưng cũng chẳng xả bỏ các đại bi, đại nguyện của Bồ tát”.
(Phẩm Lìa thế gian, thứ 38)
Không thấy có chúng sanh, thấy chúng sanh như huyễn, như hóa nhưng chẳng bỏ đại bi, đại nguyện làm việc không mệt mỏi vì chúng sanh mê mờ, khổ đau. Có thể giải thích điều nghịch lý, mâu thuẫn này theo hai bình diện:
- Bình diện chúng sanh: với chúng sanh phiền não là phiền não thật, khổ đau là khổ đau thật, sanh già bệnh chết là sanh già bệnh chết thật, bởi vì thiếu phước đức và trí huệ. Cho nên đứng trước những người buồn rầu, khổ đau, bệnh tật... Bồ tát phải ra tay cứu giúp họ. Hơn nữa còn lo cho họ trước khi khổ nạn xảy ra, bằng cách giúp họ trau dồi phước đức, những đức tính tốt, trí huệ để thấy được cuộc đời là gì và nó vận hành như thế nào khiến sống đúng hơn, tốt đẹp hơn.
Đó gọi là Bồ tát “không từ bỏ đại bi đại nguyện cứu giúp chúng sanh mà không mệt mỏi nhàm chán”.
- Về phần Bồ tát, để khỏi chán ngán, mệt mỏi, kiệt sức,
‘burnout’, vị ấy phải mặc, như các kinh thường nói, “áo giáp tánh Không”. Áo giáp tánh Không là gì?
“Phật tử! Thế nào là như huyễn nhẫn của Bồ tát?
Đại Bồ tát này biết tất cả pháp đều như huyễn. Do nhân duyên khởi, ở trong một pháp hiểu nhiều pháp, ở trong nhiều pháp hiểu một pháp. Đã biết các pháp như huyễn, đại Bồ tát này thấu rõ cõi nước, chúng sanh, pháp giới, thế gian bình đẳng như huyễn...
Cũng vậy, đại Bồ tát quán thấy tất cả thế gian như huyễn. Đó là: nghiệp thế gian, phiền não thế gian, cõi nước thế gian pháp thế gian, thời gian thế gian, hướng đi thế gian, thành thế gian, hoại thế gian, vận động thế gian, tạo tác thế gian.
Khi đại Bồ tát quán tất cả thế gian như huyễn, thì chẳng thấy chúng sanh sanh, chẳng thấy chúng sanh diệt, chẳng thấy cõi nước sanh diệt, chẳng thấy các pháp sanh diệt...
Đại Bồ tát này dầu thành tựu chúng sanh mà biết chúng sanh không có khác biệt. Dầu quán khắp pháp giới mà an trụ pháp tánh tịch nhiên bất động. Dầu độ thoát chúng sanh mà rõ biết pháp giới bình đẳng không có các thứ sai khác. Dầu chẳng bám chấp việc giáo hóa chúng sanh mà chẳng bỏ đại bi.”...
(Phẩm Thập nhẫn, thứ 29).
Thấy thế giới, chúng sanh, công việc độ sanh đều như huyễn, đó là mặc giáp tánh Không, nhưng chẳng xả bỏ từ bi hóa độ cứu khổ cho chúng sanh vì chúng sanh có kinh nghiệm sanh tử là thật, khổ đau là thật.
Nhờ áo giáp là cái thấy tánh Không, Bồ tát mới có thể đảm đương, gánh vác sanh tử và chúng sanh, không bỏ nguyện hạnh từ bi, đồng thời miễn nhiễm với sanh tử và những phiền não khổ đau của chúng sanh.
Như thế từ lúc bắt đầu con đường, Bồ tát đã đi bằng tánh Không và từ bi, cho đến cuối con đường, thành quả cũng là tánh Không và từ bi đã khai triển, chứng ngộ trọn vẹn.
2/ Nền tảng, Con đường, và Quả của Bồ tát.
Bốn Tâm vô lượng, Từ, Bi, Hỷ, Xả vô lượng đều được chỉ dạy trong hệ thống kinh Nikaya và trong hệ thống Đại thừa.
Khi nói đến Từ vô lượng, Bi vô lượng... thì chữ vô lượng này đã rất gần, hầu như là tiếp xúc, với 18 cái Không của kinh Đại Bát Nhã. Vô lượng vô biên gần với Đại Không, không gian mười phương rộng lớn vô biên nhưng trống không. Với Vô thủy Không, Tất cánh Không cũng thế.
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn nói có ba loại, ba cấp độ của từ, bi, hỷ, xả. Ở đây chỉ bàn về hai loại từ (yêu thương) và bi (thương xót).
- Chúng sanh duyên từ, bi. Khi lòng thương yêu, thương xót hướng đến chúng sanh, không phải chỉ một vài chúng sanh, tâm đã mở ra, rộng lớn nhiều. Và do đó, cuộc đời hành giả cũng mở ra, rộng lớn để bao trùm chúng sanh. Mặc dầu tâm ấy rộng mở, nhưng còn tướng chúng sanh, nên vẫn còn bị giới hạn, ngăn ngại.
- Pháp duyên từ, bi. Tâm thương yêu, thương xót mở rộng ra đến tất cả các pháp, tất cả mọi hiện tượng, mọi hiện hữu. Như vậy là tâm thương yêu, thương xót này đã trùm khắp thế giới và vũ trụ. Nhưng còn các pháp làm đối tượng nên còn bị giới hạn.
- Vô duyên từ, bi là tâm yêu thương, thương xót không do nhân duyên nào cả. Và không có đối tượng nhân duyên nào, cho nên cũng không có một chủ thể là người thương yêu, tâm thương yêu nào cả.
Vô duyên, không có nhân duyên, tức là tánh Không. Đến đây từ, bi vô duyên là từ, bi hợp nhất với tánh Không, không tôi, không người, không chúng sanh, không thọ mạng.
Trong kinh thường có thành ngữ Vô duyên đại từ, Đồng thể đại bi. Vô duyên đại từ là đại từ hợp nhất với tánh Không (vô duyên). Đồng thể đại bi là đại bi đồng thể với tánh Không.
Trong phần giảng giải của Bồ tát Di Lặc cho Thiện Tài, Bồ tát nói:
“Đại Bồ tát sanh nhà tôn quý như vậy rồi, vì biết tất cả pháp như bóng hình nên đối với thế gian không ghét chê. Vì biết tất cả pháp như biến hóa nên không nhiễm dính các cõi hữu lậu. Vì biết tất cả pháp không có ngã nên giáo hóa chúng sanh lòng không nhàm mỏi. Vì dùng đại từ bi làm thể tánh nên nhiếp thọ chúng sanh chẳng biết khổ nhọc. Vì bỏ rõ biết sanh tử dường như mộng nên trải qua tất cả kiếp mà không e sợ. Vì biết rõ các uẩn đều như huyễn nên thị hiện thọ sanh mà không nhàm mỏi. Vì biết các giới, xứ đồng pháp giới nên nơi các cảnh giới không bị hoại diệt.”...
Đại từ đại bi là thể tánh hay nền tảng bản thể của Bồ tát. Tánh Không cũng là nền tảng bản thể của Bồ tát. Bản thể ấy là vô tự tánh, bất khả đắc, vô sở hữu. Như thế đại từ đại bi và tánh Không là nền tảng bản thể của Bồ tát.
Trong Kinh Lăng Nghiêm, Niết bàn hay Bản giác diệu tâm hợp nhất với từ và bi, qua lời của Bồ tát Quán Thế Âm như sau:
“Ban đầu ở trong cái nghe, vào dòng mất cái được nghe (sở). Cái được nghe và chỗ vào đã vắng lặng, hai tướng động tĩnh rõ ràng chẳng sanh. Như vậy dần dần tăng tiến thêm, cái nghe (năng) và cái được nghe (sở) đều hết.
Chẳng dừng lại nơi hết cái nghe và cái được nghe thì cái năng giác và sở giác đều Không. Không và giác cùng tột tròn vẹn thì năng Không sở Không đều diệt.
Sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền (Niết bàn). Tức thì vượt khỏi thế gian và xuất thế gian, tròn sáng khắp mười phương, được hai điều tột bậc:
Một là trên hợp với Bản giác diệu tâm của mười phương chư Phật, cùng với chư Phật Như Lai đồng một lực Từ.
Hai là, dưới hợp với mười phương chúng sanh sáu nẻo, cùng với tất cả chúng sanh đồng một Bi ngưỡng”.
Bản thể của thế gian và xuất thế gian là tánh Không, hợp nhất với Từ và Bi trong cùng một nền tảng giác ngộ.
Trong hệ thống Ấn Tạng, đạo Phật gồm Nền tảng, Con đường, Quả, tương đương với Đông Á là Cảnh, Hạnh, Quả.
Khi tánh Không và từ bi hợp nhất trong một nền tảng bản thể, thì Nền tảng là tánh Không và từ bi hợp nhất, Con đường là tánh Không và từ bi hợp nhất, Quả là tánh Không và từ bi hợp nhất.
Đây tạm gọi là bản thể luận (ontology) của Đại thừa.

