TÁM PHÁP CHẲNG THỐI CHUYỂN CỦA BỒ TÁT
NGUYỄN THẾ ĐĂNG
Trích: Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt - Giảng về Năm Pháp Hội Kinh Đại Bảo Tích; NXB Thiện Tri Thức.
---o0o---
Trong Pháp hội Di Lặc Bồ tát vấn bát pháp, Kinh Đại Bảo Tích, Bồ tát Di Lặc thưa hỏi "thành tựu được mấy pháp thì chẳng thối chuyển vô thượng Bồ đề (Giác Ngộ vô thượng)". Đức Phật dạy:
"Này Di Lặc! Chư đại Bồ tát rốt ráo thành tựu tám pháp thì chẳng thối chuyển Giác Ngộ vô thượng, ở trong pháp thắng tiến chẳng thối chẳng chuyển, lúc hành đạo Bồ tát hàng phục tất cả các ma oán địch, như thật biết tự thể tướng của tất cả pháp, ở các thế gian tâm chẳng mỏi mệt, vì tâm chẳng mỏi mệt nên chẳng y nơi trí người khác, mau chóng thành tựu Giác Ngộ vô thượng".
Con đường Bồ tát thì chẳng thối chuyển đối với Giác Ngộ vô thượng để cứu độ chúng sanh. Muốn như thế thì Bồ tát phải biết nền tảng của con đường Bồ tát, đó là "như thật biết tự thể tướng của tất cả pháp". Tự thể tướng của tất cả pháp, nói theo Kinh Pháp Hoa là "thật tướng của tất cả Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt các pháp", nói theo các kinh khác là "pháp tánh", "Pháp thân của tất cả chư Phật", "Như Lai tạng", "tánh Không"...
Chính trên nền tảng đó mà "hàng phục tất cả ma oán địch, ở các thế gian tâm chẳng mỏi mệt". Cũng chính trên nền tảng "bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm" ấy mà cứu độ chúng sanh đưa họ vào chỗ giải thoát. Tám pháp khiến chẳng thối chuyển với Giác Ngộ vô thượng gồm trong những điều trên, tức là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.
"Những gì là tám pháp? Đó là các đại Bồ tát thành tựu thâm tâm, thành tựu hạnh tâm, thành tựu xả tâm, thành tựu tâm khéo biết phương tiện hồi hướng, thành tựu đại từ tâm, thành tựu đại bi tâm, thành tựu khéo biết phương tiện và thành tựu Bát Nhã Ba la mật."
Đây là tám pháp khiến Bồ tát không bị thối chuyển. Tám pháp ấy hỗ trợ cho nhau, liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành một con đường chẳng thể hư hoại cho Bồ tát. Thành tựu được tám pháp ấy, Bồ tát không còn bị thối chuyển đối với Giác Ngộ vô thượng.
"Này Di Lặc! Thế nào là đại Bồ tát thành tựu thâm tâm?
Nếu các đại Bồ tát nghe khen ngợi Phật và chê bai Phật, tâm họ rốt ráo nơi Giác Ngộ vô thượng vững chắc chẳng động; nếu nghe khen ngợi Pháp và chê bai Pháp, tâm họ rốt ráo nơi Giác Ngộ vô thượng vững chắc chẳng động; nếu nghe khen ngợi Tăng và chê bai Tăng, tâm họ rốt ráo nơi Giác Ngộ vô thượng vững chắc chẳng động. Đây là các đại Bồ tát rốt ráo thành tựu thâm tâm".
Thâm tâm là tâm sâu thẳm. Sâu thẳm nơi tin, sâu thẳm nơi nguyện. Sâu thẳm nơi hạnh. Nhờ tâm sâu thẳm này mà nghe khen, chê Tam Bảo tâm vẫn vững chắc chẳng động, chẳng bị cuốn theo cảnh thuận hay nghịch.
Với tâm sâu thẳm, vững chắc chẳng động này, Bồ tát trước những biến đổi, lên xuống của thế gian vẫn vững vàng
"ở nơi pháp thắng tiến chẳng thối chẳng chuyển". Tóm lại, trước tám gió thế gian, thịnh suy, khen chê, vinh nhục, sướng khổ, đều trụ nơi pháp, đi xuyên qua mà thắng tiến.
Thâm tâm là "tâm vững chắc chẳng động" đối với con đường Bồ tát.
"Này Di Lặc! Thế nào là đại Bồ tát thành tựu hạnh tâm?
Nếu các đại Bồ tát xa lìa sát sanh, xa lìa trộm cướp, xa lìa tà dâm, xa lìa vọng ngôn, xa lìa lưỡng thiệt, xa lìa ác khẩu, xa lìa ỷ ngữ, đây là rốt ráo thành tựu hạnh tâm".
Hạnh tâm là tâm đức hạnh, tâm thanh tịnh. Những hành động xấu của thân ngữ tâm làm hại người khác, tức là trái ngược, phá hoại tâm đại bi cứu độ. Hơn nữa, những phiền não và hành động bất tịnh ấy làm hại chính Bồ tát; chính những phiền não và hành động bất tịnh che lấp chân lý, che lấp "tự thể tướng của tất cả pháp".
Bồ tát phải xa lìa những phiền não và hành động xấu ấy, vì chúng chướng ngại con đường tự giác giác tha của Bồ tát đạo.
"Này Di Lặc! Thế nào là đại Bồ tát thành tựu xả tâm?
Nếu các đại Bồ tát hay xả, hay bố thí cho các Sa môn, Bà la môn, kẻ nghèo cùng, người ăn xin, những người thấp kém các thứ vật dụng, thức ăn uống, y phục, chỗ nằm, thuốc men, đây là rốt ráo thành tựu xả tâm."
Xả tâm là tâm cho đi những của cải vật chất, và cả những của cải tinh thần, đối với những người thiếu thốn. Xả tâm là hành động của từ bi đối với người khác, đồng thời cởi bỏ những bám giữ vào những sở hữu của mình. Bố thí, cho đi là hành động lợi người lợi mình, là Ba la mật đầu tiên của Bồ tát, Bố thí ba la mật.
"Này Di Lặc! Thế nào là các đại Bồ tát rốt ráo thành tựu tâm khéo biết phương tiện hồi hướng?
Nếu các đại Bồ tát có tu hành bao nhiêu thiện căn từ ba nghiệp thân khẩu ý đều hồi hướng Giác Ngộ vô thượng, đây là rốt ráo thành tựu tâm khéo biết phương tiện hồi hướng."
Tất cả những thiện căn do tu hành có được, Bồ tát đều hồi hướng Giác Ngộ vô thượng. Những thiện căn tích tập được phần lớn là do sống cùng chúng sanh và Giác Ngộ vô thượng cũng bao trùm tất cả chúng sanh. Như thế, hồi hướng Giác Ngộ vô thượng cũng là hồi hướng các thiện căn cho chúng sanh. Chúng ta thấy con đường Bồ tát luôn luôn có mặt chúng sanh, có mặt đại bi với chúng sanh. Như những kinh khác thường nói, "Bồ tát chẳng khi nào từ bỏ chúng sanh, dù chỉ một người."
"Này Di Lặc! Thế nào là các đại Bồ tát thành tựu tâm đại từ?
Nếu các đại Bồ tát rốt ráo thành tựu thân nghiệp đại từ, rốt ráo thành tựu khẩu nghiệp đại từ, rốt ráo thành tựu ý nghiệp đại từ, đây là rốt ráo thành tựu đại từ tâm".
Bồ tát sống ở đời không phải bằng tham lam, giành giật, hơn thua, giận ghét... mà bằng tâm từ. Tất cả những hành động thân, khẩu, ý đều được phổ vào đó tâm từ. Cho nên, cuộc đời Bồ tát là hiện thân của tâm từ. Sự có mặt thường xuyên của tâm từ, cũng có nghĩa là sự vắng mặt của tất cả mọi điều xấu ác của thế gian. Thế nên trong kinh thường ví Bồ tát với hoa sen, mọc trên đầm lầy thế gian mà không dính bùn hôi dơ. Trong ca dao Việt Nam có nói nhiều về hoa sen, có thể xem đó là cuộc đời thanh tịnh vì tâm từ của Bồ tát, như:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
"Này Di Lặc! Thế nào là các đại Bồ tát thành tựu đại bi tâm?
Nếu các đại Bồ tát thành tựu thân nghiệp chẳng thể chê trách, thành tựu khẩu nghiệp chẳng thể chê trách, thành tựu ý nghiệp chẳng thể chê trách, đây là rốt ráo thành tựu tâm đại bi."
Tâm đại bi khiến cho các hành động của thân, khẩu, ý chẳng thể chê trách cho thấy rằng tâm đại bi rất thanh tịnh, không có lỗi lầm để có thể chê trách.
Theo Phật giáo cũng như có thể thấy trong cuộc đời bình thường, một tâm không thể có hai tâm đối nghịch cùng hiện hữu. Khi có tâm từ thì không có tâm sân, và ngược lại. Khi có tâm hỷ thì không có tâm khổ, và ngược lại. Tâm đại bi khiến cho không có lỗi lầm có thể chê trách, và ngược lại nếu có lỗi lầm đáng chê trách thì khi ấy không có tâm đại bi.
Đại từ đại bi là sự sống và cách sống của Bồ tát. Đại từ đại bi khiến Bồ tát sống trong đời, làm việc lợi lạc cho người đời nhưng không bị nhiễm ô bởi những phiền não của đời. Cho nên tuy sống và làm việc ở trong đời nhưng Bồ tát vẫn ở ngoài đời, ở ngoài danh lợi, tiền tài, khen chê, tốt xấu...
Sáu pháp chẳng thối chuyển này là sự phát tâm đối với Vô thượng Bồ đề (Giác Ngộ vô thượng), giữ tâm vững chắc chẳng động chẳng thối lui (thâm tâm), trau dồi tâm bằng những pháp thiện (hạnh tâm, xả tâm, hồi hướng tâm, đại từ tâm, đại bi tâm). Đó là tâm Bồ đề. Tâm Bồ đề này khiến Bồ tát "ở các thế gian tâm chẳng mỏi mệt". Nhưng đây mới là tâm Bồ đề tương đối, vì có phát khởi, có giữ gìn, có trau dồi bằng những nhân duyên, điều kiện. Chẳng hạn, từ và bi thì phải có chúng sanh làm nhân duyên, điều kiện để có thể phát khởi và phát triển. Những nhân duyên, điều kiện ấy nằm trong thế giới hiện tượng, nghĩa là nằm trong thế giới sanh tử. Thế nên phát tâm Bồ đề này là tâm Bồ đề tương đối.
Sáu pháp này giúp Bồ tát chẳng thối chuyển trên con đường Bồ tát, nhưng chưa hoàn toàn chẳng thối chuyển vì còn nằm trong vòng tương đối của nhân duyên và điều kiện. Vì thế kinh dùng chữ "tâm" cho cả sáu pháp chứ không dùng chữ "trí huệ".
Phải đến hai pháp sau cùng thì tâm Bồ đề tương đối mới trở thành tâm Bồ đề tuyệt đối, vì hai pháp sau cùng là "khéo biết Đệ nhất nghĩa đế" và "thành tựu Bát nhã ba la mật". Đệ nhất nghĩa đế là tánh Không và Bát nhã ba la mật là trí huệ thấu rõ tánh Không. Tánh Không là tâm Bồ đề tuyệt đối.
Tâm Bồ đề tuyệt đối ấy cũng là "tự thể tướng của tất cả pháp" được nói ở phần mở dầu của Kinh.


