CÁC PHÁP CHẲNG BIẾT NHAU
Nguyễn Thế Đăng
-------o0o-------
Đây là câu trong bài kệ của Bồ tát Giác Thủ trả lời câu hỏi của Bồ tát Văn Thù, phẩm Bồ tát vấn minh, thứ 10,Kinh Hoa Nghiêm.
“Lúc bấy giờ, Bồ tát Văn Thù hỏi Bồ tát Giác Thủ: Phật tử! Tâm tánh là một, tại sao thấy có đủ sự khác nhau? Những là: đến đường lành, nẻo xấu, thọ sanh khác nhau, đẹp đẽ xấu xí, khổ vui khác nhau. Nghiệp chẳng biết tâm, tâm chẳng biết nghiệp. Thọ chẳng biết báo, báo chẳng biết thọ. Tâm chẳng biết thọ, thọ chẳng biết tâm. Nhân chẳng biết duyên, duyên chẳng biết nhân. Trí chẳng biết cảnh, cảnh chẳng biết trí”.
⃰
Chủ đề ‘chẳng biết’ này được Bồ tát Giác Thủ trả lời như sau:
Nay ngài hỏi nghĩa này
Để tỏ ngộ quần mê
Tôi theo tánh mà đáp:
Xin ngài hãy lắng nghe
Các pháp không tác dụng
Cũng không có thể tánh
Vì thế nên các pháp
Thảy đều chẳng biết nhau.
Các pháp không có thể tánh, tạm thời hợp lại, do nhiều nhân duyên mà tạm thời sanh. Vì không có thể tánh, vô tự tánh, nghĩa là trống không, không có chủ thể và đối tượng nên không “biết” nhau.
Biết nhau, tác dụng với nhau khi có thực thể, có tự tánh. Không có tự tánh nên không tác dụng với nhau, không liên hệ với nhau, không thể biết nhau.
Ở người, biết là do phân biệt. Khi phân biệt cái này khác với cái kia thì lúc ấy cũng biết cái này khác với cái kia.
Ví như nước trong sông
Các dòng đua nhau chảy
Mỗi cái chẳng biết nhau
Các pháp cũng như vậy.
Một dòng sông có nhiều dòng chảy, giữa sông chảy nhanh hơn, hai bên bờ vì bị bờ cản nên chảy chậm hơn. Chưa kể là phía trên nước nhiều hay ít, độ dốc nhiều hay ít, hai bờ rộng hay hẹp... Những điều kiện đó (nhân duyên đó) quy định, điều kiện hóa dòng sông. Sông không tự chảy mà phải dựa vào những nhân duyên khác.
Sự chảy của một dòng sông là do các dòng chảy, các dòng này phụ thuộc vào các điều kiện khác, các dòng không tự chảy, nên “chẳng biết nhau”, chẳng thể phối hợp với nhau.
Các pháp cũng như các dòng chảy, phụ thuộc vào các điều kiện khác, nên là không có tự tánh, vô tự tánh. Chẳng biết nhau vì vô tự tánh vậy.
Trong các pháp, có tâm: “tâm chẳng biết thọ, thọ chẳng biết tâm”. Tâm thấy các pháp sai khác nhau vì tâm lạc vào sự phân biệt, mà không biết chúng vốn đồng một tánh là vô tự tánh.
Nên để tâm thấy tất cả pháp không sai khác nhau, vốn đồng một tánh là vô tự tánh thì tâm phải ngừng phân biệt. Khi không phân biệt thì tâm thấy ra và là tánh Không vô tự tánh. Chủ thể phân biệt và các pháp được phân biệt chấm dứt trong tánh Không.
Lại như đống lửa lớn
Cùng lúc lửa bừng cháy
Mỗi cái chẳng biết nhau
Các pháp cũng như vậy.
Lại như gió mạnh thổi
Lay động các sự vật
Mỗi cái chẳng biết nhau
Các pháp cũng như vậy.
Lại như các mảnh đất
Đều phải nương tựa nhau
Mỗi cái chẳng biết nhau
Các pháp cũng như vậy.
Như một đống lửa lớn, lửa bùng cháy cùng lúc, mà tánh của lửa là vô tánh, vô tự tánh, nên các lửa chẳng biết nhau.
Như gió mạnh thổi làm lay động các vật, sự lay động này làm cho người ta biết có các sự vật khác nhau. Nhưng đây là một cái thấy lầm, sự vật, các pháp không khác nhau vì đều vô tự tánh.
Như các mảnh đất, rộng hẹp khác nhau, cao thấp khác nhau nhưng đều nương dựa nhau mà tồn tại, chẳng có đất nào độc lập với các đất khác. Tất cả các mảnh đất đều có bản tánh là đất, đều vô tự tánh như đất. Chúng không có khác biệt, không phân biệt, và vì không phân biệt nên nói rằng mỗi cái chẳng biết nhau.
Trong khi ấy con người không biết rằng chúng có một cùng một bản tánh là vô tự tánh,họkhởi lên phân biệt đất này khác với đất kia, và do đó cho rằng chúng khác nhau. Có sự khác nhau vì tâm phân biệt chia cắt thực tại tánh Không thành các sự vật khác biệt.
Câu hỏi của Bồ tát Văn Thù:“tâm tánh vốn là một, tại sao lại thấy có các thứ sai khác?”, đến đây đã được trả lời. Tất cả các pháp đều là một tánh, đó là vô tự tánh, thế mà con người thấy các thứ sai khác nhau vì tâm không biết điều đó, thấy lầm là chúng có tự tánh, có thực thể, chúng “biết” nhau.
Cái thấy lầm này là do tâm phân biệt ‘dệt’ nên các sự vật sai khác nhau, mà không biết tánh của chúng là vô tự tánh.Không biết các sự vật, các pháp là vô tự tánh mà ‘thêu dệt’ cho rằng chúng có tự tánh, do đó cho rằng chúng biết nhau.
Tâm phân biệt là sai lầm, hư vọng cho nên khi dệt nên thế giới thì thế giới cũng là hư vọng.
Chính tâm phân biệt dệt trên nền tảng tánh Không vô tự tánh thành thế giới sanh tử khổ đau.Nhưng thế giới sanh tử được dệt nên này là vô tự tánh. Thấy rõ sự vô tự tánh của sanh tử thì giải thoát khỏi sanh tử.
⃰
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
Tâm ý các tình căn
Do đây thường lưu chuyển
(Nhưng) không ai, không gì chuyển.
Cái gì chuyển nền tảng tánh Không vô tự tánh này thành sanh tử “thường lưu chuyển”?
Đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đã bị nhiễm dơ do phân biệt, do các phiền não. Tình căn nghĩa là các giác quan (căn) đã bị nhiễm phiền não (tình).
Nhưng đã bị nhiễm phân biệt, phiền não rồi thì làm sao giải thoát? Phải y cứ vào cáinền tảng tánh không vô tự tánh từ đó các phân biệt nhiễm ô giả hợp sanh ra.Muốn tịnh hóa tâm từ phân biệt hư vọng trở lại tâm Không, vô phân biệt thì phải y cứ vào nền tảng tánh Không vô tự tánh, vô phân biệt này.
Thấy nền tảng tánh Không vô tự tánh này thì mới biết là không có ai, không có cái gì lưu chuyển.
Pháp tánh vốnvô sanh
Thị hiện mà có sanh
Trong đây không người hiện
Cũng không vật được hiện.
Nền tảng tánh Không vô tự tánh là pháp tánh vốn vô sanh, thị hiện mà có sanh nên sự thị hiện này là như huyễn, như mộng. Tánh Không thị hiện sanh ra sắc, nên sắc như huyễn như mộng. Trong tánh Không, thật ra không có người hiện và không có vật được hiện.
Hiện mà không hiện, sanh mà không sanh, đây là giải thoát ngay trong cái hiện, cái sanh, nghĩa là giải thoát ngay trong sanh tử. Nói theo Đại Toàn Thiện Dzogchen, hiện mà không hiện, sanh mà không sanh là trò chơi, sự phô diễn (play, display, TT. Rölpa, Tsal) của tánh giác Rigpa.
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
Tâm ý sáu tình căn
Tất cả Không, vô tánh
Vọng phân biệt mà có.
Theo lý mà quan sát
Tất cả vô tự tánh
Pháp nhãn chẳng khái niệm
Đây thấy chẳng điên đảo
Hoặc thật hay chẳng thật
Hoặc vọng hay chẳng vọng
Thế gian, xuất thế gian
Chỉ là lời nói giả.
Tất cả thấy nghe nghĩ biết tạo thành thế gian đều do phân biệt hư vọng mà có. Tất cả các thứ sai khác đều do không thấy tánh vô tự tánh, vô sanh... để chạy theo các thứ sai khác do hư vọng phân biệt mà thành.
Trong khi đó, mắt pháp (pháp nhãn) thì thấy chẳng điên đảo, thấy “pháp tánh vốn vô sanh”, nghĩa là thấy Niết bàn “tất cả Không, vô tánh” thay vì thấy sanh tử điên đảo, cuồng loạn.
Thật hay chẳng thật, vọng hay chẳng vọng, thế gian hay xuất thế gian, đó chỉ là những khái niệm do lạc vào các tướng hư vọng giả lập mà có.
Toàn bài kệ, từng đoạn là những đề mục để thiền định thiền quán, khiến người ta thấy ra mọi sự, tâm – vật, là vô tự tánh, do đó mà có thể thoát khỏi những ràng buộc của sanh tử vô tự tánh.
⃰
Quốc sư Huệ Trung, đệ tử trực tiếp của Lục Tổ Huệ Năng, khi có người hỏi:
- Thế nào là giải thoát?
Sư nói:
- Các pháp chẳng đến nhau, ngay đây là giải thoát (chư pháp bất tương đáo, đương xứ giải thoát).
Hỏi:
- Làm sao đoạn dứt hết?
Sư nói:
- Đã nói các pháp không đến nhau, đoạn dứt cái gì!


