ĐI VÀO CỬA DUY THỨC - Trích: DUY THỨC THẤY THẲNG BẢN TÁNH CỦA TÂM - Tác giả: NGUYỄN THẾ ĐĂNG - Nxb Tổng Hợp TP HCM 2025

ĐI VÀO CỬA DUY THỨC

Trích: DUY THỨC THẤY THẲNG BẢN TÁNH CỦA TÂM

Tác giả: NGUYỄN THẾ ĐĂNG

Nxb Tổng Hợp TP HCM 2025

--o0o--

Tất cả các pháp, các hiện tượng đều là cảnh giới của tự tâm phân biệt. Biết tất cả đều “do tâm mà hiện, chứng duy tự tâm, trụ vô phân biệt”. Đây là ngộ Duy thức, mà kinh nói là “khai ngộ”
ĐI VÀO CỬA DUY THỨC - Trích: DUY THỨC THẤY THẲNG BẢN TÁNH CỦA TÂM - Tác giả: NGUYỄN THẾ ĐĂNG - Nxb Tổng Hợp TP HCM 2025

 

Trong phẩm thứ Nhất, Vua La Bà Na xin thỉnh, của Kinh Nhập Lăng Già, do Pháp sư Thật Xoa Nan Đà dịch tiếng Hán, Đại chánh tân tu Đại Tạng Kinh, quyển 16 số 672 bản in 2009, nói về sự khai ngộ của vua như sau.

Sau khi vua La Bà Na của thành Lăng Già và các quyến thuộc thỉnh Bồ tát Đại Huệ kính hỏi Thế Tôn về “cảnh giới tự chứng của tất cả Như Lai”, kinh nói:

“Bấy giờ Thế Tôn dùng thần thông lực, ở trong núi ấy, lại hóa ra vô lượng núi báu, dùng vô số thứ quý báu của chư thiên mà trang nghiêm.

Trên mỗi núi đều có thân Phật hiện. Trước mỗi Phật đều có vua La Bà Na và chúng hội. Tất cả các cõi nước trong mười phương đều hiện trong đó, trong mỗi cõi nước đều có Như Lai, trước mỗi đức Phật đều có vua La Bà Na cùng quyến thuộc, vườn A Du Dà trong thành Lăng Già trang nghiêm, tất cả đều trang nghiêm không khác. Mỗi mỗi đều có Bồ tát Đại Huệ thỉnh hỏi Phật khai thị cảnh giới trí tự chứng.

Dùng trăm ngàn âm thanh vi diệu nói xong kinh này, Phật và chư Bồ tát biến vào hư không.

Vua La Bà Na tự thấy chỉ còn thân mình trong cung, bèn khởi suy nghĩ: Người thấy những việc vừa rồi là ai? Phật và thành, rừng và núi báu, các vật như thế bây giờ ở đâu? Hay là nằm mộng? Hay là ảo ảnh? Hay giống như thành Càn thát bà? Hay do nhặm mắt thấy? Hay là sự mê lầm do sóng nắng? Hay là như trong mộng và đứa con của người nữ bằng đá? Hay như ngọn đuốc quay mà thấy thành vòng lửa?”

Mở đầu kinh do thấy sự trang nghiêm của cảnh giới Phật. Sự trang nghiêm ấy nhân lên vô số lần, một núi báu, một đức Phật, một Bồ tát Đại Huệ, một vua Lăng già và quyến thuộc lại biến ra vô số núi báu, vô số Phật, vô số Bồ tát Đại Huệ, vô số vua Lăng già và quyến thuộc… Một biến ra vô số, và vô số lại ở trong một. Đây là cảnh giới, pháp giới sự sự vô ngại được nói nhiều trong Kinh Hoa Nghiêm.

Một biến thành vô số, và vô số ở trong một cũng là cảnh giới, pháp giới của Kinh Nhập Lăng Già. Cảnh giới này, Kinh Hoa Nghiêm nói là:

Tâm, Phật, và chúng sanh

Cả ba không sai khác.

Các kinh hệ Duy thức như Nhập Lăng Già nói là:

Ba cõi duy Tâm

Muôn pháp duy thức.

Đức Phật đã “dùng lực thần thông” để hiển bày cho vua La Bà Na của thành Lăng Già trên núi Ma La Dà tạm thời thấy được pháp giới chư Phật, pháp giới của Tâm (viết hoa), pháp giới của bản tánh của tâm.

“Dùng trăm ngàn âm thanh vi diệu nói xong kinh này”: hiển thị pháp giới chư Phật, cảnh giới kinh Lăng Già, đó là “nói xong kinh này”, dù chưa thuyết pháp. Sự hiển bày cảnh giới Duy thức đã là thuyết pháp.

Rồi sau đó “Phật và chư Bồ tát biến vào hư không”, không xuất hiện, để lại sự thắc mắc, nghi ngờ này không chỉ của vua La Bà Na, mà của tất cả những ai, 2000 năm sau, vẫn còn học hỏi Kinh Lăng Già, học hỏi hệ thống Duy thức.

Bởi vì sau đó Bồ tát Đại Huệ hỏi thay cho vua và tất cả chúng sanh đời sau 108 câu hỏi bằng kệ. Các câu hỏi đó có thể tóm gọn lại thành , ‘Tại sao có sự vật, thế giới, con người, vũ trụ ?’, ‘Tại sao và như thế nào, có sự xuất hiện?’

Riêng vua La Bà Na đã tự hỏi:

Ai thấy? Cái gì thấy? và rồi cái thấy ấy “biến mất vào hư không”, hư không là cái gì, chỗ nào? Hay là nằm mộng, hay là ảo ảnh? Hay là thấy lầm?

Và hiện giờ, mắt thấy tai nghe cảnh trước mắt, bao nhiêu kinh nghiệm đang sống… thật sự, cái gì thấy? cái gì kinh nghiệm? Thật hay giả?

Kinh Lăng Già sẽ trả lời điều đó, cho những người “có quán hành”, có thực hành thiền định thiền quán, có tập sống trong Giới Định Huệ.

“Lại nghĩ: Tánh của các pháp đều như thế, chỉ là cảnh giới của tự tâm phân biệt. Kẻ phàm phu không thể hiểu rõ. Không có người thấy cũng không có cái được thấy, không có người thuyết cũng không có cái được thuyết. Thấy Phật nghe pháp đều là phân biệt. Hướng theo cái được thấy như vậy thì chẳng thể thấy được Phật. Chẳng khởi phân biệt tức là thấy Phật.

Khi ấy vua Lăng Già bỗng nhiên khai ngộ, lìa các nhiễm ô, chứng duy tự tâm, trụ vô phân biệt. Do sức những thiện căn được trồng từ xưa, ông được cái thấy như thật đối với tất cả các pháp, không do người khác mà ngộ, có thể dùng tự trí quán sát một cách khéo léo, xa lìa vĩnh viễn tất cả so lường tà kiến. Trở thành một vị thầy trong những người tu hành, có thể hiện đủ thứ thân, thông suốt các phương tiện, khéo biết các địa và cách vượt lên các địa. Thường thích xa lìa tâm, ý, ý thức, cắt đứt ba loại thấy tương tục, lìa chấp trước của ngoại đạo. Bên trong tự ngộ, nhập vào Như Lai tạng, hướng đến Phật địa.”

“Không có người thấy cũng không có cái được thấy, không có người thuyết cũng không có cái được thuyết”, đây là tánh Không. Và tánh Không lại có sự xuất hiện, sự xuất hiện này là thế nào?

Tất cả các pháp, các hiện tượng đều là cảnh giới của tự tâm phân biệt. Biết tất cả đều “do tâm mà hiện, chứng duy tự tâm, trụ vô phân biệt”. Đây là ngộ Duy thức, mà kinh nói là “khai ngộ”.

Ngộ hay khai ngộ theo Thành Duy Thức luận là Thông đạt vị, tức là Sơ Hoan hỷ địa, địa đầu tiên trong Mười Địa của Pháp thân. Đó cũng là Kiến đạo vị, “được cái thấy như thật đối với tất cả các pháp”, “khéo biết các địa (trên) và cách vượt lên các địa”.

“Do sức thiện căn được trồng từ xưa, ông được cái thấy như thật…”, thiện căn là công đức, công đức giúp cho trí huệ (“cái thấy như thật”) khai phát; phước huệ song tu là như vậy.

Ngộ có nghĩa là “nhập vào Như Lai tạng (Pháp thân)”, đây là Thông đạt vị và phải tiếp tục thực hành (Tu tập vị), “hướng đến Phật địa (hay quả Phật)”.

Kinh nói “thường thích xa lìa tâm, ý, ý thức”, thích xa lìa chứ chưa lìa hẵn, bởi vì đến Vô sanh pháp nhẫn, địa thứ Tám, mới là lìa hẳn.

“Ông bỗng nghe giữa không trung và trong cung điện đều phát tiếng nói: Hay thay, đại vương! Như chỗ ông học, các người tu hành cũng phải học như thế, phải thấy như thế. Tất cả chư Như Lai cũng thấy như thế.

Nếu thấy tất cả các pháp mà khác như thế thì tức là đoạn kiến. Ông phải xa lìa vĩnh viễn tâm, ý, ý thức, nên chuyên cần quán sát tất cả các pháp, nên tu hành ở bên trong, chớ bám trước cái thấy ở bên ngoài. Chớ sa vào những pháp tu, câu nghĩa, cảnh giới thấy được, các định của nhị thừa và ngoại đạo. Chớ nên ưa thích những hý luận, đàm tiếu, chớ khởi các kiến về tự ngã, cũng chớ trụ vào các định trong sanh tử.

Nếu có thể như vậy là sự thực hành của người như thật tu hành, dùng diệu huệ chuyển thức sở y, có thể tu đạo Đại thừa của Bồ tát, có thể vào địa tự chứng của Như Lai. Ông nên chuyên cần tu học thêm như vậy khiến pháp sở đắc càng thêm thanh tịnh. Hãy khéo tu tam muội, tam ma bát đề, chớ bám trước cảnh giới ngoại đạo và nhị thừa. Nhị thừa thấy thật có vô minh duyên hành, nên trong tánh Không sanh loạn tưởng phân biệt.

Vua Lăng Già! Hạnh Đại thừa này phá sự che lấp của vô minh, diệt làn sóng thức, chẳng sa vào những tà hạnh của ngoại đạo. Họ chấp trước ngã, tạo các dị luận, chẳng thể lìa khỏi chấp trước mà diễn nói, thấy tánh, thức có hai nghĩa.

Hay thay vua Lăng Già! Hãy tư duy nghĩa ấy như khi trước đây ông thấy Phật, tu duy như thế bèn là thấy Phật.”

Khi đã lần đầu tạm thời xa lìa tâm, ý, ý thức, biết rõ trí vô phân biệt là gì, thì không còn đi vào thức phân biệt, tức là vào sanh tử nữa. Khi ấy thấy tất cả mọi hiện tượng đều không thật, như huyễn như mộng, đây là cửa đi vào giải thoát giác ngộ, vì như kinh nói, “thấy thật có vô minh duyên hành nên trong tánh Không sanh loạn tưởng phân biệt”.

Đây là lời khuyên “nên chuyên cần tu học thêm”, không sa vào các lối nhỏ chật hẹp và sai lầm. Như Đại thừa nói, đốn ngộ Pháp thân rồi thì phải tiệm tu hay diệu tu, để đến địa Như Lai.

“Khi ấy vua Lăng Già lại nghĩ: Xin cho con lại được thấy Như Lai. Như Lai tự tại trong quán, có thể nói cảnh giới thánh trí tự chứng, vượt khỏi các thân ứng, hóa và các sự việc ứng hiện, trụ trong định Như Lai tam muội lạc, thế nên được xưng là đại Quán hành sư, cũng được xưng là bậc đại Bi mẫn, đã đốt sạch phiền não và phân biệt, vào khắp trong tâm của tất cả chúng sanh, bậc ở khắp tất cả chỗ, đầy đủ Nhất thiết trí, vĩnh viễn lìa tất cả phân biệt sự tướng.

Con nay xin thấy lại lực đại thần thông của Như Lai, nhờ được thấy mà đắc được cái chưa đắc, nếu con đã đắc thì không thối chuyển, lìa các phân biệt, trụ tam muội lạc, tăng trưởng đầy đủ trí địa Như Lai”.

Khi vua Lăng Già được Đức Phật khai thị cho thấy cảnh tượng huy hoàng của pháp giới, rồi tất cả biến mất vào hư không, vua đã ngộ rằng tất cả là do tâm mà hiện (“duy tâm sở hiện”), chứng được bản tánh của tâm (hay của thức), “chẳng khởi phân biệt tức là thấy Phật”.

Pháp giới xuất hiện rồi biến mất là sự xuất hiện và biến mất của tâm.

Nhưng có phải tâm Không, “tánh Không” (chữ trong kinh ở trên) là biến mất hoàn toàn, không còn sự xuất hiện nào cả? Có phải pháp giới là không có biểu hiện, là một sự biến mất hẳn. Có phải “chẳng khởi phân biệt tức là thấy Phật”, chỉ có nghĩa là chẳng khởi phân biệt thì không thấy gì nữa cả?

Có phải tâm, bản tánh của tâm chỉ ‘một bề’ là sự biến mất, không biểu hiện, vì thắc mắc này mà vua Lăng Già xin Phật cho thấy lại ngài và pháp giới.

“Bấy giờ Thế Tôn biết vua Lăng Già sẽ chứng ngộ Vô sanh pháp nhẫn nên thương xót bèn hiện thân, khiến các sự hóa hiện trở lại như cũ. Vua thấy lại những gì từng thấy, vô lượng núi, thành trang nghiêm bằng châu báu, trong mỗi mỗi thành đều có Phật ba mươi hai tướng nghiêm thân, tự thấy thân mình khắp trước chư Phật, đều có Bồ tát Đại Huệ, dạ xoa vây quanh, nói pháp thực hành trí tự chứng. Cũng thấy quốc độ của mười phương chư Phật. Tất cả các sự như vậy đều không khác trước”.

Đức Phật xuất hiện trở lại để cho vua Lăng Già biết bản tánh của tâm hay Duy thức tánh không phải là không có gì cả, không phải là một tánh Không hư vô, và để vua từ “khai ngộ” lên đến sự “chứng ngộ Vô sanh pháp nhẫn”. Những phần sau Kinh sẽ giảng vì sự việc này.

Tất cả pháp giới xuất hiện trở lại để cho vua thấy rằng tánh Không không chỉ là”sắc tức là Không”, mà còn là “Không tức là sắc”.

Như về sau, Kinh thường hay lấy thí dụ gương và các bóng trong gương, mặt trăng và các bóng trăng trong mọi dòng nước, các màu sắc của viên ngọc ma ni… Gương không phải là không có gì trong đó, gương có các bóng, các bóng chẳng phải là gương mà cũng không lìa gương. Mặt trăng có ảnh chiếu trong mọi dòng sông, các ảnh chiếu không phải “tức là” mặt trăng, cũng chẳng phải “lìa ngoài “mặt trăng…

Đây là nghĩa hóa thân như huyễn, như mộng của hệ thống Duy thức. Như huyễn như mộng là có xuất hiện nhưng vô tự tánh, nên chính là tánh Không. Đây cũng là nghĩa Diệu Hữu trong câu Chân Không – Diệu Hữu.

“Bấy giờ Thế Tôn từ xa quán chúng hội bằng huệ nhãn rồi bỗng hân hoan mạnh mẽ cười lớn như vua sư tử. Từ giữa hai lông mày, đùi, hông, lưng, cổ và vai, cánh tay chữ vạn giữa ngực, mỗi mỗi lỗ chân lông đều phóng vô lượng ánh sáng diệu sắc như cầu vồng, như tia sáng mặt trời, cũng như ngọn lửa cháy lúc hết kiếp. Lúc ấy trong hư không, Phạm Thiên, Đế Thích, bốn Thiên vương, từ xa thấy Như Lai ngồi như núi Tu Di trên đỉnh Lăng Già hân hoan cười lớn”.

Đức Phật nhìn toàn thể chúng hội rồi bỗng hân hoan mạnh mẽ cười lớn. Đây là cái cười thấu hiểu trọn vẹn “Ba cõi duy tâm, muôn pháp duy thức”, xuất hiện mà vẫn là Không, Không mà vẫn xuất hiện.

Toàn bộ cuốn Kinh Nhập Lăng Già là để giảng nghĩa cái cười Duy thức này.

Tóm lại, vào của Duy thức là thấy và an trụ trong Duy thức tánh, tức là tánh Không, Chân Như. Ở trong ấy thì thấy tất cả mọi xuất hiện, tất cả sanh tử là như huyễn, như mộng, do đó Bồ tát hoạt động trong sanh tử mà không bị nhiễm ô.

Như huyễn, như mộng nên làm mà không làm, nói mà không nói, như đoạn kinh sau ( phẩm Vô thường), Đức Phật nói: “Thế nên, Đại Huệ, trong kinh ta nói, “Ta cùng chư Phật và chư Bồ tát không từng nói một chữ nào, không đáp một chữ nào”.

Ảnh nguồn internet

Bài viết liên quan