SỐ ĐỜI CẦN THIẾT CHO MỘT CHU TRÌNH TRỌN VẸN - KHO BÁU THIỆN ĐỨC - JIGME LINGPA - Với phần bình giảng của Longchen Yeshe Dorje, Kangyur Rinpoche - Nhóm Padmapani chuyển Việt ngữ

SỐ ĐỜI CẦN THIẾT CHO MỘT CHU TRÌNH TRỌN VẸN

KHO BÁU THIỆN ĐỨC - JIGME LINGPA

Với phần bình giảng của Longchen Yeshe Dorje, Kangyur Rinpoche

Nhóm Padmapani chuyển Việt ngữ

--o0o--

Chính do Ái và Thủ mà chúng sinh phải nếm trải khổ đau. Sự thực là nếu diệt được Ái và Thủ thì sẽ không còn tái sinh nữa, mặc dù khi đó nghiệp vẫn còn.
SỐ ĐỜI CẦN THIẾT CHO MỘT CHU TRÌNH TRỌN VẸN - KHO BÁU THIỆN ĐỨC - JIGME LINGPA - Với phần bình giảng của Longchen Yeshe Dorje, Kangyur Rinpoche - Nhóm Padmapani chuyển Việt ngữ

 

Một chu trình trọn vẹn của mười hai nhân duyên được thúc đẩy từ một hành động ban đầu xảy ra trong nhiều nhất là ba đời. Theo đó thì hai mắt xích năng dẫn là Vô Minh và Hành xuất hiện trong một đời; ba mắt xích năng sinh là Ái, Thủ, Hữu biểu lộ trong đời thứ hai, và năm mắt xích sở dẫn là Thức, Danh-Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ cùng với hai mắt xích sở sinh là Sinh và Lão-Tử xuất hiện trong đời thứ ba.

Xét trong khoảng thời gian của mỗi đời sống thì xuất phát từ vô minh mà chúng sinh hành động tạo nghiệp dẫn tới tái sinh ở các đời sau. Như vậy, Vô Minh đánh dấu sự khởi đầu của mọi chu trình mười hai nhân duyên. Hay nói cách khác, Vô Minh và Hành xuất hiện từ những đời trước là duyên sinh ra Thức, Danh-Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ trong đời này, và như thế hình thành nên phần giữa của chu trình. Cũng vậy, ba mắt xích năng sinh của đời trước là Ái, Thủ, Hữu mà bản thân chúng được hình thành bởi nghiệp của những đời trước nữa chính là duyên sinh ra hai mắt xích sở sinh của đời này là Sinh và Lão-Tử. Qua đó kết thúc một chu trình trọn vẹn của mười hai nhân duyên. Từ thời vô thuỷ bánh xe cuộc đời đã lăn như vậy.

Chu trình mười hai nhân duyên cũng được trình bày trong thời gian ngắn nhất là hai đời. Khi đó các mắt xích năng dẫn là Vô Minh và Hành được hỗ trợ và thôi thúc bởi Ái và Thủ khiến chúng sinh tích tập nghiệp. Điều đó dẫn tới sự tái sinh ở một đời sau và tiến trình này tương ứng với mắt xích Hữu. Năm mắt xích này cùng với khía cạnh nhân của Thức tạo thành sáu mắt xích cùng xuất hiện trong một đời. Duyên theo đó mà có sự tái sinh (Sinh) ở đời sau. Rồi dần dần bốn mắt xích là Danh-Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ được hoàn thiện và kết thúc bằng Lão-Tử. Chúng là sáu mắt xích kết quả được hình thành trong một đời khác.

Giả sử rằng một dẫn nghiệp đã được tạo ra, nhưng nếu tại thời điểm chết nó không được nuôi dưỡng bởi Ái và Thủ thì sẽ không có sự tái sinh tiếp theo. Bởi vì để có một tái sinh mới thì cần cả hai loại mắt xích năng dẫn và năng sinh xuất hiện trong cùng một đời. Thêm nữa, do các mắt xích sở sinh chỉ bộc lộ trong quãng thời gian giữa Sinh và Tử nên hiển nhiên các mắt xích sở dẫn và sở sinh phải đi cùng với nhau. Tuy nhiên, trong thực tế thì các mắt xích năng dẫn và năng sinh (của cùng một chu trình mười hai nhân duyên) có thể cách xa nhau nhiều đời. Nhưng điều này không thể xảy ra trong trường hợp của các mắt xích sở dẫn và sở sinh. Người ta có thể cho rằng điều này mâu thuẫn với lý giải về chu trình mười hai nhân duyên xảy ra trong ba đời nhưng không phải như vậy. Bởi vì những đời sống xen vào giữa các mắt xích năng dẫn và năng sinh của cùng một chu trình thì thuộc về những chu trình mười hai nhân duyên khác. Đây là giáo lý duyên khởi được kiến giải theo quan điểm rằng một dẫn nghiệp chỉ dẫn tới một tái sinh. Mỗi một chu trình riêng biệt phải hoàn thành trong hai hoặc ba đời mà không có cách nào khác. Sự kiểm chứng đúng đắn của giáo lý này sẽ mang lại một hiểu biết sâu sắc về sự thực rằng gốc rễ của luân hồi là Ái và Thủ. Chính do Ái và Thủ mà chúng sinh phải nếm trải khổ đau. Sự thực là nếu diệt được Ái và Thủ thì sẽ không còn tái sinh nữa, mặc dù khi đó nghiệp vẫn còn.

Điều này có thể quan sát trong trường hợp của một số vị A-la-hán.

Phương pháp thiền quán về lý duyên khởi

Có hai phương pháp thiền quán về mười hai nhân duyên. Mỗi phương pháp đều bao gồm phép quán thuận và quán nghịch.

Theo cách thứ nhất thì quá trình dẫn tới tái sinh trong luân hồi được thực hiện bởi phép quán thuận và sự chấm dứt của nó được thực hiện bởi phép quán nghịch. Trong cách quán thứ hai thì phép quán thuận tập trung vào cả sự hình thành và chấm dứt của kiếp sống luân hồi bắt đầu với Vô Minh. Chiều quán ngược lại cũng thể hiện sự hình thành và chấm dứt của luân hồi nhưng bắt đầu từ Lão-Tử quán ngược trở lại.

Trong cách quán thứ nhất, người ta quán theo chiều thuận từ Vô Minh sinh Hành, từ Hành sinh Thức và tương tự. Hoặc cũng thế, quán có Sinh nên có Lão-Tử, có Hữu nên có Sinh, v.v. Mặt khác, chiều nghịch bắt đầu từ việc quán Vô Minh diệt thì Hành diệt, Hành diệt thì Thức diệt. Cũng vậy, có thể quán rằng do Sinh diệt nên Lão-Tử diệt, do Hữu diệt nên Sinh diệt và tương tự.

Trái lại, theo cách quán thứ hai thì phép quán thuận bắt đầu từ quán do Vô Minh nên sinh Hành và do đó Vô Minh diệt thì Hành cũng diệt. Do Hành nên sinh Thức và như vậy Hành diệt thì Thức diệt. Chiều quán nghịch của cách quán này bắt đầu với việc quán Lão-Tử khởi sinh từ Sinh, và do đó Sinh diệt thì Lão-Tử diệt; Sinh khởi sinh từ Hữu, và như thế Hữu diệt thì Sinh cũng diệt.

Phép quán thuận và nghịch trong cách quán thứ hai có thể được dùng làm phương tiện để hiểu về Tứ Đế như được giải thích trong Abhidharmasamucchaya (A-Tì-Đạt-Ma Tập Luận) của Ngài Asanga (Vô Trước). Nếu dùng cách quán thuận cho tới Sinh thì ta sẽ hiểu được Tập Đế, còn nếu dùng phép quán nghịch cho tới Sinh thì ta sẽ hiểu được Khổ Đế. Theo một cách tương tự, phép quán thuận và nghịch dẫn tới sự đoạn diệt của Sinh là cách giải thích cho Đạo Đế và Diệt Đế.

Ví dụ, Tập Đế là xúc tình phiền não bắt nguồn từ Vô Minh. Do Vô Minh mà Hành sinh khởi và do đó tạo nghiệp. Như vậy, hai mắt xích đầu tiên ám chỉ nguyên nhân của khổ bắt nguồn từ hai yếu tố là nghiệp và phiền não. Tiếp tục như vậy, dùng trí tuệ để quán chiếu Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, v.v. thì sẽ hiểu được Tập Đế. Mặt khác, nỗi khổ lớn nhất trong luân hồi là Lão và Tử thì bắt đầu từ Sinh. Quán theo chiều nghịch như vậy thì sẽ hiểu được Khổ Đế là kết quả của xúc tình tiêu cực.

Nhờ vào trí tuệ chứng ngộ vô ngã (tinh tuý của Đạo Đế) mà ta có thể loại bỏ được gốc rễ của Tập Đế là Vô Minh. Vô Minh diệt thì Hành diệt và tương tự cho đến Lão-Tử cũng diệt. Như thế, phép quán thuận dần đưa tới sự chấm dứt của tái sinh đã mở ra sự thật về con đường (Đạo Đế), là nhân cho giải thoát. Cuối cùng, nỗi khổ lớn nhất của luân hồi mà ta muốn thoát ra là Sinh và Tử, và sự chấm dứt của chúng là Diệt Đế. Do vậy, bằng cách chấm dứt Sinh thì Lão-Tử sẽ diệt, tương tự cho tới Vô minh diệt thì Hành diệt. Quán chiếu theo cách này giúp ta hiểu được kết quả toàn hảo hay Diệt Đế.

Khi quán chiếu tất cả những điều này một cách sâu sắc ta sẽ nhận ra rằng gốc rễ của nỗi khổ đau ngập tràn trong luân hồi chính là Vô Minh, đó là niềm tin vào sự tồn tại chắc thật của bản ngã. Trái lại, ta cũng hiểu rằng trí tuệ chứng ngộ sự thật về vô ngã là gốc rễ của mọi con đường chân thật. Do đó ta cần nỗ lực để xác quyết được điều này. Tuy nhiên sự xác quyết này chỉ có được nhờ vào sự quán chiếu sâu sắc, vượt xa khỏi việc nghiên cứu, học hỏi giáo lý theo cách thông thường. Trong toàn bộ kho tàng giáo lý thâm sâu đích thực của Đức Thế Tôn thì giáo lý duyên khởi là quan trọng nhất.

Giáo lý duyên khởi chỉ ra rằng Vô Minh là gốc rễ của luân hồi, trong khi đó trí tuệ vô ngã là cội nguồn của niết bàn. Vô minh khởi sinh Hành với ba loại nghiệp là thiện, ác và bất động, từ đó dẫn dắt chúng sinh vào các nẻo luân hồi. Tiếp theo khởi sinh ra Thức, Danh-Sắc rồi phát triển thành Lục Nhập, Khi các giác quan và đối tượng gặp gỡ thì Xúc xuất hiện, ví dụ như khi mắt nhìn thấy một hình ảnh hay tương tự. Do có Xúc nên ba loại cảm thọ (Thọ) là dễ chịu, khó chịu và trung tính được kinh nghiệm. Từ đó sinh ra Ái là khát khao trải nghiệm sự dễ chịu và tránh né những gì khó ưa. Từ Ái sinh ra Thủ và kết quả là Hữu khởi sinh (ví dụ ngũ uẩn). Và do Hữu nên có sự Sinh trong đời tiếp theo. Khi sinh ra, chúng sinh không có được những gì mình muốn nên khổ đau. Họ bị bệnh tật do các yếu tố mất cân bằng và ngày càng già đi theo năm tháng (Lão), để rồi cuối cùng chấm dứt cuộc đời với cái chết (Tử). Như thế họ muôn vàn khổ đau. Bằng cách chấm dứt sự tiếp nối của tái sinh, điều được trải nghiệm như là thật trong luân hồi, thì mọi khổ đau sẽ được loại trừ.

Giáo lý nhân quả thâm sâu biểu lộ trong chuỗi mắt xích duyên khởi thì rất khó có thể hiểu thấu bởi những người ngoài Phật Pháp. Đó là Pháp bảo trân quý nhất mà Đức Phật, Bậc tuyên thuyết sự thật, đã giảng dạy và cũng là điều đáng để ngợi ca tán thán.

Bản chất vô sinh của duyên khởi

Sự hiểu biết của các vị Thanh Văn và Duyên Giác về duyên khởi thì thực sự tương đồng với sự thấu hiểu lý vô ngã của các hành giả Đại Thừa. Nhưng sự hiểu này vẫn còn giới hạn trong cái hiểu về tính vô ngã của cá nhân. Các vị Thanh Văn và Duyên Giác hiểu rằng nguyên nhân của sự tái sinh là do chúng sinh tạo tác nghiệp dựa trên niềm tin vào thân ngũ uẩn giả tạm này như một tự ngã. Do đó bị nghiệp lực dẫn dắt sinh vào các cõi lành hay dữ của luân hồi để trải nghiệm hạnh phúc và khổ đau. Dựa trên quan kiến về nhân quả có thể chia ra làm hai loại nghiệp. Nghiệp trắng hay thiện nghiệp đưa tới giải thoát thuộc về Đạo Đế và Diệt Đế. Nghiệp đen hay ác nghiệp khởi sinh do phiền não thuộc về Tập Đế và Khổ Đế.

Nhưng sự thật tối hậu thì vượt ngoài mọi phân biệt, suy lường, vượt khỏi mọi sự chấp nhận hay chối bỏ đối với các hiện tượng được bao trùm trong Tứ Đế, vượt trên mọi loại tâm và tâm hành, vượt khỏi sự đối đãi của hợp tạo và không hợp tạo, và vượt ngoài hai thái cực của sự hiện hữu luân hồi và tịch lặng của niết bàn. Sự thật tuyệt đối là vô sinh, là bản tính tối hậu của vạn pháp, vĩnh viễn thoát khỏi mọi tạo tác của tâm. Nó chỉ có thể được chứng ngộ bởi trí tuệ siêu việt của tự tánh.

Ảnh nguồn internet

Bài viết liên quan