MÙA XUÂN TRÊN CON ĐƯỜNG BẤT TỬ - Nguyễn Thế Đăng

MÙA XUÂN TRÊN CON ĐƯỜNG BẤT TỬ

 Nguyễn Thế Đăng

---o0o---

Mùa xuân biểu lộ sự mới mẻ, trẻ trung, sự tái sinh, cho cả con người và thiên nhiên, nên mùa xuân được gắn liền với hình dung về sự bất tử. Con người luôn luôn mơ ước về sự / cái bất tử. Không biết có phải vì thế hay không mà đạo Phật xem Niết bàn đồng nghĩa với Bất tử.
MÙA XUÂN TRÊN CON ĐƯỜNG BẤT TỬ - Nguyễn Thế Đăng

Mùa xuân biểu lộ sự mới mẻ, trẻ trung, sự tái sinh, cho cả con người và thiên nhiên, nên mùa xuân được gắn liền với hình dung về sự bất tử.

Con người luôn luôn mơ ước về sự / cái bất tử. Không biết có phải vì thế hay không mà đạo Phật xem Niết bàn đồng nghĩa với Bất tử.

 

1/ Con đường bất tử

Bất tử (amata) được nói nhiều trong Nikaya, kinh tạng Pali.

Cửa bất tử (amata -dvara) rộng mở cho những ai muốn nghe. Hãy vất bỏ sự tin tưởng của tà kiến lầm lạc” (kinh Thánh cầu, Trung bộ kinh)

Kinh Bất tử, Tương ưng niệm xứ, Tương ưng bộ, nói:

Các Tỳ kheo, chớ bỏ quên cái Bất tử. Ai bỏ quên Tứ niệm xứ là bỏ quên Bất tử. Ai thực hành Tứ niệm xứ là thực hành Bất tử”.

 

Kinh Nhập vào bất tử (Amatogadha), Tương ưng bộ, nói:

Ở đây, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo tu tập chánh tri kiến, nhập vào bất tử, hướng về bất tử, cứu cánh là bất tử”.

Tỳ kheo tu tập chánh tri kiến thiên về Niết bàn, hướng về Niết bàn, xuôi về Niết bàn.

Con đường “hướng về bất tử” cũng là “con đường bất tử” (amatapada). Kinh Pháp Cú, phẩm Không phóng dật, nói:

21.    Không phóng dật, đường bất tử (amatapadam)

         Phóng dật là con đường chết

         Không phóng dật thì không chết

         Phóng dật thì cũng như chết.

 

Con đường nhập vào bất tử, hướng về bất tử cũng là con đường bất tử, nghĩa là trên con đường ấy luôn luôn có cái bất tử.

 

Trong Nikaya thường xuyên có câu: “Pháp (Con đường) này tốt đẹp, hoàn hảo ở giai đoạn đầu, tốt đẹp hoàn hảo ở giai đoạn giữa, và tốt đẹp hoàn hảo ở giai đoạn cuối cùng”

Đầu và cuối đều tốt đẹp hoàn hảo, bởi vì trên con đường ấy luôn luôn có cái bất tử, luôn luôn có Niết bàn.

Đi trên con đường ấy, tham dự (paribhutta, to partaken) vào con đường ấy tức là thọ hưởng (paribhutta, to partaken) sự / cái bất tử, thọ hưởng Niết bàn.

Các Tỳ kheo, những ai không tham dự, không hưởng thụ thân hành niệm thì không tham dự, không hưởng thụ cái Bất tử. Những ai tham dự, hưởng thụ thân hành niệm thì tham dự, hưởng thụ cái Bất tử” (Tăng chi bộ, chương Một Pháp).

 

Đây là con đường bất tử, con đường mùa xuân bất tử, dành cho những ai đi trên đó, nghĩa là những ai tham dự, và do đó được hưởng thụ cái bất tử.

 

2/ Con đường này không xa chúng ta

Như câu kinh Pháp Cú ở trên nói “Không phóng dật là con đường bất tử”. Sự không phóng dật, sự không loạn tâm, con đường bất tử nằm ngay trong thân tâm của mỗi chúng ta.

 

Trong Nikaya có rất nhiều chữ “biết rõ, tuệ tri” (theo bản dịch của H.T Minh Châu), và các bản tiếng Anh của các Hòa thượng Miến Điện, Thái Lan là undestand, discern, know clearly. Chữ này nguyên tiếng Pali là pajanati.

Tuệ tri (pajanati) và tỉnh giác (sampajana) đều có chữ gốc là Tuệ (Pana). Cho nên khi tuệ tri, tỉnh giác thì đó là cái biết của trí tuệ. Người ta bắt đầu tiếp xúc, làm quen với tuệ. Cần biết rằng khi tuệ tri, tỉnh giác, đó là người ta bắt đầu sử dụng tuệ, bắt đầu tương ưng với tuệ.

 

Trong kinh điển Pali, những từ này được nói rất nhiều. Ở đây chỉ trích ra một vài đoạn trong kinh Đại niệm xứ để thấy rõ hơn sự thực hành tuệ tri và tỉnh giác.

 

Này các Tỳ kheo, Tỳ kheo khi bước tới, bước lui, biết rõ (tỉnh giác) việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay biết rõ việc mình đang làm; khi mang y, khi ăn, uống, nhai, nuốt, biết rõ việc mình đang làm; khi đi đại tiện,  tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi,nằm, biết rõ việc mình đang làm… Vị ấy an trú chánh niệm như vậy để hướng đến chánh trí, chánh niệm.

“Này các Tỳ kheo, vị Tỳ kheo, với tâm có tham, biết rằng tâm có tham; với tâm không tham, biết rằng tâm không tham; với tâm có sân, biết rằng tâm có sân, với tâm không sân, biết rằng tâm không sân… Vị ấy an trú chánh niệm như vậy để hướng đến chánh trí, chánh niệm”.

“Chánh trí” (Nana) đây là tuệ giác, trí tuệ của bậc giải thoát, giác ngộ. Như vậy, từ một cái biết tưởng chừng như đơn giản (tuệ tri, tỉnh giác) thân thể đang làm gì, (thân niệm xứ trong bốn niệm xứ thân, thọ, tâm, pháp), người ta có thể đạt đến trí tuệ giải thoát, giác ngộ.

 

Vấn đề là cái biết ấy phải liên tục (không phóng dật). Trong tiếng Pali, biết rõ, tuệ tri (pajanati) được duy trì liên tục thì thành tỉnh giác (sampajano; tiếng Anh, awareness). Và trong Đại thừa, Đại Toàn Thiện (Dzogchen), tỉnh giác được duy trì liên tục, trở thành thường hằng thì gọi là tánh Giác, tánh Giác rigpa (dịch ra tiếng Anh là Awareness viết hoa).

 

Như vậy con đường bất tử vốn manh nha, bắt đầu trong mỗi chúng ta. Đó là chú ý,  chánh niệm, biết rõ, tỉnh giác và đến tỉnh giác thường hằng.

Chú ý chánh niệm, biết rõ, tỉnh giác là con đường của sự bất tử. Và bất kỳ khi nào chúng ta chánh niệm, tỉnh giác, khi ấy chúng ta đang đi trên con đường bất tử, vì lúc ấy chúng ta có Niết bàn, có tánh Giác.

Bài viết liên quan