NHẪN CỦA PHÁP SÂU XA - KHENCHEN THRANGU RINPOCHE - Kinh Vua Của Định - Bài Ca Đại Ấn của Jamgon Kongtrul Rinpoche

NHẪN CỦA PHÁP SÂU XA

KHENCHEN THRANGU RINPOCHE

Trích: Kinh Vua Của Định - Bài Ca Đại Ấn của Jamgon Kongtrul Rinpoche; Khenchen Thrangu Rinpoche bình giảng, Hoàng Lan dịch; NXB Tôn Giáo, Công ty TNHH Xuất bản Thiện Tri Thức.

---o0o---

Một lần nữa, Bậc Chiến Thắng nói với Bồ tát Ánh trăng Trẻ trung: "Chàng trai trẻ, điều này nghĩa là, một vị Đại Bồ tát, người ước nguyện nhanh chóng thành tựu chân thật và trọn vẹn giác ngộ viên mãn vô thượng, người mong muốn đưa tất cả chúng sinh hữu tình vượt biển sinh tử, cần lắng nghe Kinh Vua của Định này. Kinh này cho thấy một cách trọn vẹn bản tánh bình đẳng của tất...
NHẪN CỦA PHÁP SÂU XA - KHENCHEN THRANGU RINPOCHE - Kinh Vua Của Định - Bài Ca Đại Ấn của Jamgon Kongtrul Rinpoche

Một lần nữa, Bậc Chiến Thắng nói với Bồ tát Ánh trăng Trẻ trung: "Chàng trai trẻ, điều này nghĩa là, một vị Đại Bồ tát, người ước nguyện nhanh chóng thành tựu chân thật và trọn vẹn giác ngộ viên mãn vô thượng, người mong muốn đưa tất cả chúng sinh hữu tình vượt biển sinh tử, cần lắng nghe Kinh Vua của Định này. Kinh này cho thấy một cách trọn vẹn bản tánh bình đẳng của tất cả mọi sự vật, được tán thán bởi tất cả các Đức Phật và là mẹ của tất cả các Bậc Thiện Thệ. Người ấy cần ghi nhớ, giữ gìn, nghĩ tưởng, đọc tụng, thuộc lòng, thực hành qua tu tập một cách không cảm tính, lặp đi lặp lại như vậy, và đồng thời rộng nói cho những người khác. Tại sao như vậy? Là bởi vì Kinh Vua của Định này khai mở một cách trọn vẹn bản tánh bình đẳng của tất cả mọi sự vật đã sinh ra tất cả các Bậc Thiện Thệ, A La Hán, các Bậc Chính Biến Tri, và từ đó sinh khởi tất cả các Bậc Thiện Thệ, Thanh Văn và Bích Chi Phật."

Chương 9 trong Kinh Vua của Định được gọi là "Nhẫn của Pháp sâu xa". Nó cũng bao trùm chủ đề về tánh Không. Tánh Không, sự vắng mặt của một bản chất cứng chắc của tất cả mọi hiện tượng, được giải thích kỹ lưỡng, vượt khỏi định nghĩa quy ước về tánh Không như là một trạng thái hư vô trống rỗng. Mọi thứ, tất cả những hiện tượng và kinh nghiệm, hiển lộ và diễn ra như một giấc mơ, một ảo ảnh huyền diệu, một tiếng vang, một cầu vồng, vân vân. Nói cách khác, mặc dù tất cả sự vật không có bản tánh, nói một cách tương đối, tất cả mọi hiện tượng hiển lộ thông qua duyên sinh tương thuộc. Khi chúng ta mơ về những con voi hay con ngựa, liệu những con voi hay con ngựa này có thật sự tồn tại không? Không. Nhưng trong giấc mơ, chúng ta kinh nghiệm những con voi và con ngựa như thể chúng thật sự hiện diện. Tương tự, một tiếng vang thiếu vắng âm thanh độc lập nhưng nghe như thể là một âm thanh đang phản hồi.

Một ví dụ khác là một người say kinh nghiệm "những sự đảo lộn". Anh ta cảm thấy như thể toàn thế giới đang xoay tròn xung quanh mình. Nhưng liệu thế giới có thật sự đang xoay tròn vào lúc đó không? Không. Nhưng anh ta vẫn cảm nhận theo cách đó. Mặc dù mọi thứ trống không và không có hiện hữu thực sự (không có thật), những kinh nghiệm xuất hiện trên nền tảng của duyên sinh tương thuộc.

Chương này mô tả "Nhẫn của Pháp sâu xa", hiểu rằng mặc dù mọi sự vật không có tự tánh ở cấp tối hậu, thì một cách tương đối, tất cả mọi sự vật vẫn có một sự hiện hữu nào đó. Chúng ta không nên nghĩ rằng hạnh lành không có những kết quả hoặc rằng những cảm xúc phiền não và hạnh xấu sẽ không mang lại một hậu quả nào. Một cách tương đối, các hành động tiêu cực tạo ra đau khổ tương đối. Một cách tương đối, các hành động tích cực mang lại những kết quả dễ chịu. Nói một cách tương đối, cần ngăn chặn các cảm xúc phiền não và tịnh hóa các che chướng. Nói một cách tương đối, cần phải tích tập công đức và vân vân. Chỉ bởi vì tất cả mọi thứ không có tự ngã không có nghĩa là không có ý nghĩa gì trong việc lo lắng về cái tốt và cái xấu. Một cách tuyệt đối, mọi sự vật không có bản sắc nào, nhưng một cách tương đối, có "tốt" và "xấu". Không có mâu thuẫn hay đối lập giữa hai cấp độ này. 

HỎI ĐÁP

HỌC TRÒ: Thưa Rinpoche, Ngài có thể làm sáng tỏ câu nói rằng mọi hiện tướng xuất hiện do duyên sinh tương thuộc không ạ?

RINPOCHE: "Duyên sinh tương thuộc" có nghĩa là một vật xuất hiện tùy thuộc vào một vật khác, không có bất kỳ sự hiện hữu cứng chắc nào của chính nó. Như là chúng ta đã giải thích trước đây, một hiện tướng của một cái gì đó là "dài" tùy thuộc vào ý tưởng "ngắn". Hiện tướng của một cái gì đó "ngắn" tùy thuộc vào ý tưởng "dài" . Nó cũng tương tự với những phương diện khác - "tốt" tùy thuộc vào "xấu", trong khi "xấu" tùy thuộc vào "tốt". Mọi thứ đều giống như thế. Bản chất của các sự vật trống không và không sở hữu bất kỳ đặc tính nào trong số này. Nhưng, do sự tùy thuộc, có phải là thật không khi các sự vật trong kinh nghiệm của chúng ta có vẻ như có những đặc tính này? Điều này là ý nghĩa của câu nói "mọi hiện tướng sinh khởi trong sự tùy thuộc."

HỌC TRÒ: Chúng ta nên hiểu theo đúng nghĩa đen như thế nào về chuyện Đức Phật có những đời sống trước đây? Có phải là những ví dụ về cái gọi là "những đời sống trước đây" chỉ là những chứng minh có tính tượng trưng mà Ngài đã đưa ra để giúp chúng ta hiểu những giáo lý của Ngài?

RINPOCHE: Đức Phật thật sự đã sống những đời sống trước đây. (Cười to) Vậy, các bạn sẽ nói gì về điều này? (Cười to).

HỌC TRÒ: Vài ngày trước, Rinpoche đã thảo luận về tinh túy của Như Lai Tạng (Phật tánh). Ngài dùng ẩn dụ về chuyện người ăn xin không biết có vàng chôn ở dưới nhà, mặc dù vàng luôn ở đó. Nó không thay đổi, mặc dù bị che phủ. Nếu chúng ta hiểu điều này theo nghĩa đen và nói rằng Như Lai Tạng là không thay đổi, liệu đấy có phải rằng chúng ta cho là có một cái gì đó tồn tại một cách tối bậu? Liệu có tốt hơn không khi nói rằng nó không thay đổi, nhưng nó cũng không như cũ? Rằng nó thoát khỏi sự thay đổi và không thay đổi? Nếu không, nó giống như là một thực thể có thật hiện hữu.

RINPOCHE: Đúng là bản chất, hay tinh túy của Như Lai Tạng là không thay đổi. Nhưng tại sao điều ấy lại được khẳng định? Bởi vì bản chất hay tinh túy này là tánh Không trong bản tánh, nó không được tạo lập bởi bất kỳ sự hiện hữu có bản chất nào, nó được nói rằng tinh túy của Như Lai Tạng là không thay đổi. Bất cứ điều gì là có hiện hữu vật chất cụ thể không thể nào không thay đổi. Điều đó là không thể.

Nó là sự vắng mặt của bản chất cứng chắc mà Đức Phật đã mô tả trong các bản Kinh Bát Nhã, khi nói về mười sáu loại tánh Không. Phật tánh không có bản chất cứng chắc. Nhưng liệu điều này có nghĩa là Phật tánh giống như không gian không? Không. Như tôi đã nói trước đây, không gian và Phật tánh, hoặc bản tánh của tâm là không giống nhau. Không gian là "tánh Không chết" hoặc "tánh Không vật lý". Một người có tâm được gọi là "người đang sống" trong khi cũng thân ấy không có tâm thì được gọi là "xác chết" hoặc "người chết". Tương tự, bản tánh của tâm không được gọi là "tánh Không chết" như là trong trường hợp của không gian, cái hoàn toàn không có bất kỳ phẩm tính nhận biết nào. Phật tánh không có bản chất nhưng không chết như là một cái xác, nó có thể biết hoặc kinh nghiệm bất cứ cái gì diễn ra. Bạn có thể tự mình khám phá, nó không quá phức tạp. Hãy cố gắng nhìn vào tâm của chính mình, vào cái đang tri giác. Bạn có tìm thấy bất cứ cái gì không? Không. Nhưng cùng lúc, điều này có phải là trong một khoảnh khắc, thân của bạn biến thành một xác chết? Không. Tại sao? Bởi vì vẫn có tính biết, khả năng biết hoặc lĩnh hội. Đó là cái mà đôi khi được gọi là "quang minh" hoặc "trí huệ". Đây là sự khác biệt giữa không gian và Phật tánh. Phật tánh vừa trống không vừa rõ biết, và bởi vì sự nhận biết trống không này, Phật tánh được nói là không thay đổi.

RINPOCHE: Bây giờ, tôi có một câu hỏi dành cho người đã hỏi về những đời sống trước đây của Đức Phật là thật sự hay chỉ là tượng trưng. Câu hỏi của tôi là "Tại sao bạn lại hỏi câu này? Có phải là bởi vì bạn cân nhắc rằng Đức Phật an trụ trong trạng thái giác ngộ bổn nguyên? Hay là bởi vì bạn không tin vào những đời sống trước của một vị Phật?"

HỌC TRÒ: Tôi có khó khăn khi hiểu về sự tái sinh.

RINPOCHE: Không chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) có những đời sống trước, mà tất cả chúng sinh đều có những kiếp sống trước đời hiện tại này. Họ cũng sẽ kinh nghiệm một đời sống tiếp theo. Chúng ta không chỉ có một hoặc hai đời sống; chúng ta đã kinh nghiệm vô số đời sống trong sinh tử, được xem là không có điểm khởi đầu. Đức Phật nói rằng chúng ta sẽ tiếp tục tái sinh hết đời này sang đời khác, trừ khi chúng ta đạt giải thoát và giác ngộ. Chúng ta chấp nhận điều này vì là những Phật tử.

Bây giờ, chúng ta có thân thể, lời nói và tâm. Để phương diện âm thanh sang bên cạnh bởi vì tự thân nó không có nhiều tính liên tục, hãy thảo luận về những phương diện của thân và tâm. Khi các nhà khoa học giải thích về nguồn gốc của các sự vật, ví dụ như là một hòn sỏi, họ sẽ nói nhiều. Hòn sỏi đến từ đâu? Nó có phải là một mảnh vỡ từ một ngọn núi, lăn xuống đồi, được đánh bóng và bây giờ, có thể được gọi là một "hòn sỏi". Nhưng bản chất thật sự của nó đến từ đâu? Họ có thể thảo luận nguồn gốc của đá và cách nó hình thành, có một lượng thông tin khổng lồ. Cũng tương tự như vậy khi xem xét cơ thể con người. Nó không xuất hiện một cách ngẫu nhiên. Một thân người sinh khởi từ những nguồn gốc như là gen của cha mẹ và vân vân. Có nhiều thứ để nói khi truy tìm về nguồn gốc của các sự vật.

Khi thảo luận về tâm, khoảnh khắc của thức, khả năng chú tâm và lĩnh hội đến từ đâu? Nó đến từ khoảnh khắc của thức trước đó. Mỗi giây phút tạo nên hoàn cảnh cho một khoảnh khắc mới của thức hiện hữu. Không có những cấu phần vật chất của thân thể có thể tạo ra khả năng này của thức. Do đó, chúng ta có thể hiểu một cách dễ dàng rằng ý thức không xuất hiện một cách đột ngột trong khi chúng ta đang trải qua những giai đoạn khác nhau của đời sống phôi thai trong bụng mẹ. Thức chỉ xuất hiện từ một cái gì đó có thể tạo ra nó, đó là khoảnh khắc trước đó của ý thức. Nó rất rõ ràng rằng ý thức phải tồn tại trước khi khái niệm xảy ra trong dạ con. Do đó, phải có những đời sống trước đây so với đời sống này.

Hãy nhìn vào thực tại rằng ngày hôm nay, chúng ta có thể tri giác và có ý thức. Liệu điều này có nghĩa là có thể ngày mai, tâm sẽ không còn hiện hữu, rằng bạn sẽ sống không có tâm? Không. Nó không xảy ra như thế. Có một sự tiếp nối của thức bất kể là mối liên hệ giữa thân và tâm có bị đứt đoạn hay không. Dựa trên lý luận này, chúng ta có thể cảm thấy chắc chắn rằng sẽ có những đời sống tương lai. Không có gì có thể làm đứt đoạn tính liên tục của ý thức. Sẽ có những kinh nghiệm thêm nữa để trải qua trong tương lai. Đây là những gì Đức Phật dạy, và nó được chấp nhận bởi tất cả các trường phái Phật giáo.

ÁP DỤNG CÁI TINH TÚY

Một lần nữa, Bậc Chiến Thắng nói với Bồ tát Ánh trăng Trẻ trung: "Chàng trai trẻ, điều này nghĩa là, con cần tự tu tập trong cái gọi là "tha thiết áp dụng cái tinh túy". Tại sao như vậy? Chàng trai trẻ, bởi vì một vị đại Bồ tát, người tha thiết tự áp dụng cái tinh túy không có khó khăn nào trong việc thành tựu trọn vẹn và chân thật giác ngộ viên mãn vô thượng, chứ không chỉ riêng định này.

Sau đó, Bồ tát Ánh trăng Trẻ trung đứng lên từ chỗ ngồi của mình, trệch vai áo, quỳ gối phải, chắp tay cung kính hướng về Đức Phật và nói rằng: "Bậc Chiến Thắng, lời khuyên và những giáo huấn của ngài đã ban cho và truyền giảng trọn vẹn tới tất cả các vị Đại Bồ tát đã hoàn toàn được truyền đạt, hoàn toàn bộc lộ, và chỉ ra tất cả những cách tu tập của một vị Bồ tát, lời giảng và sự làm sáng tỏ này thật là tuyệt vời!
Bậc Chiến Thắng, do bởi đây là địa của Như Lai, không phải hàng các Thanh Văn, Duyên Giác, chứ nói gì đến hàng các ngoại đạo."

"Bậc Chiến Thắng, con sẽ tự áp dụng cái tinh túy một cách tha thiết và do đó, không kể đến đời mình, con xin nguyện theo những bước chân của ngài! Mục đích của điều này là để làm gì? Bậc Chiến Thắng, con xin nguyện tu tập về những bước chân của các Như Lai! Bậc Chiến Thắng, con xin nguyện chứng ngộ chân thực và trọn vẹn giác ngộ viên mãn vô thượng! Bậc Chiến Thắng, con xin nguyện đánh bại hoàn toàn các Ma vương! Bậc Chiến Thắng, con nguyện giải thoát tất cả chúng sinh khỏi những sợ hãi và khổ đau của họ! Kính mong Bậc Chiến Thắng hãy đặt tay ngài lên đầu con!"

Có lẽ vì chính chúng ta, với đức tin và sùng mộ mạnh mẽ, chúng ta mong muốn thực hành và thành tựu những giáo lý này. Một cách tiếp cận như vậy là tích cực, nhưng hạn hẹp và có giới hạn, nó không bao gồm thái độ bao la của một vị Bồ tát. Một cách lý tưởng là chúng ta cần có động lực để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh hữu tình. Với hình dung họ nhiều vô tận như là bầu trời bao la, chúng ta cần nghĩ rằng tất cả chúng sinh đều mong có hạnh phúc và thoát khỏi đau đớn, khổ sở. Mặc dù họ mong có hạnh phúc, họ không ý thức được làm thế nào để tạo ra những nguyên nhân cho hạnh phúc, và làm thế nào để tránh những nguyên nhân tạo ra khổ đau. Mặt khác, chúng ta đã đón nhận Phật Pháp và đang đi theo những bước chân của Đức Phật. Do đó, chúng ta có lợi thế của việc biết cái gì cần làm và cái gì cần tránh. Thông qua tu tập, chúng ta không chỉ loại trừ những nguyên nhân của khổ đau và tạo ra những nguyên nhân cho hạnh phúc trong tương lai, mà chúng ta cũng có thể thành tựu an lạc cho các chúng sinh khác. Chúng ta nên cố gắng trưởng dưỡng phát tâm hướng về sự thành tựu giác ngộ viên mãn vô thượng vì lợi lạc của tất cả chúng sinh hữu tình. Hãy vui lòng học Pháp và thực hành với thái độ và động lực như vậy.

Bài viết liên quan