NHỮNG HÓA HIỆN VÀ NỀN TẢNG CỦA CHÚNG
Tác giả: TULKU URGYEN RINPOCHE
Trích từ nguyên tác AS IT IS (những bài pháp trong 2 năm cuối cùng 1994, 1995)
Nguyên Chân Việt Dũng chuyển dịch Việt ngữ.
Sự nhấn mạnh chính yếu trong các thực hành Đại Toàn Thiện (Dzogchen) là nhận biết tinh túy tâm. Đó là mục đích chính yếu. Như một sự hỗ trợ cho điều đó, có các sadhana (nghi quỹ thực hành) khác nhau. Như một ví dụ, tôi sẽ sử dụng Kunzang [Tuktig], cái bao gồm một trăm vị bổn tôn hiền hòa và phẫn nộ. Sadhana này là một sự hỗ trợ vô cùng quý giá và thâm sâu bởi vì mandala của các vị bổn tôn hiền hòa và phẫn nộ bao gồm Tam Bảo, Tam Căn, và tất cả chư bổn tôn của ba thân. Các vị bổn tôn không khác gì lõi cốt tủy bên trong của bản tánh nền tảng của chúng ta; chư vị thường được mô tả là các vị bổn tôn an trụ tự nhiên trong mandala của thân kim cương của chúng ta. Do đó, tu tập trong một sadhana như vậy cho phép chúng ta chứng ngộ các phương diện khác nhau của bản tánh nền tảng của mình.
Một thực hành như Kunzang Tuktig không bị giới hạn trong một bối cảnh nhập thất hay trong một khoảng thời gian nhất định nào đó. Nó là một con đường đầy đủ cho cả cuộc đời của một người. Đó không phải là một thực hành mà người ta sẽ có lúc hoàn thành xong. Nó cũng không phải chỉ được sử dụng khi ngồi xuống tọa cụ thiền định của mình. Thực hành bổn tôn (yidam) là điều gì đó có thể được đưa vào cuộc sống của một người trong bất kỳ tình huống nào, ở bất kỳ khoảnh khắc nào. Bạn mang theo thực hành này cho dù bạn ngồi hay đi lại, bất kể bạn đang tham gia vào việc gì. Đừng có ý tưởng rằng bạn nên dừng lại sau một túc số trì tụng nhất định. Loại thực hành này là để tiếp tục trong toàn bộ cuộc đời bạn. Lý do tại sao một sadhana lại là một sự hỗ trợ thâm sâu như vậy là vì nó chứa đựng tất cả các phương diện khác nhau của thực hành Kim Cương thừa.
Cái thấy của Ati Yoga được chứa đựng trong bản văn sadhana, và bản văn sadhana được hiện thân trong sự áp dụng của cá nhân người đó. Việc sử dụng một bản văn sadhana trong thực hành cá nhân giúp tích lũy công đức to lớn và tịnh hóa một lượng lớn các che chướng. Đó là một phước báu lớn lao.
Sadhana là hiện thân của các mật điển của Mahayoga, các kinh điển của Anu Yoga và các chỉ dẫn của Ati Yoga. Một sadhana thường có ba phần cơ bản: phần chuẩn bị (sơ khởi), phần chính yếu và phần hồi hướng.
Phần chuẩn bị bao gồm các giai đoạn sơ khởi như quy y và phát khởi Bồ đề tâm hướng tới giác ngộ viên mãn. Sau đó là việc xua tan các thế lực chướng ngại. Các thế lực chướng ngại giống như những tên cướp đánh cắp các sự ban phước. Chúng có thể đánh cắp đi sự tỏa sáng của những ngọn đèn bơ và sự rực rỡ của các lễ vật cúng dường, như tôi đã đề cập trước đó. Để tránh điều này, bạn ban cho chúng một torma và nói: “Hãy lấy cái này và rời đi.” Những kẻ không rời đi sẽ bị trục xuất bằng các phương tiện phẫn nộ. Sau khi xua đuổi các thế lực chướng ngại, bạn quán tưởng vòng bảo vệ. Sau đó là sự trút xuống của sự rực rỡ (từ chư Phật) vào bất cứ thứ gì xuất hiện và hiện hữu, toàn bộ thế giới và chúng sinh. Ở cuối phần chuẩn bị này là sự thánh hóa các lễ vật cúng dường, trong đó bất cứ thứ gì bạn thực sự có đều được nhân lên, biến đổi và gia tăng theo đủ mọi cách khác nhau. Mọi thứ cho đến thời điểm đó là phần chuẩn bị.
Phần chính yếu của một sadhana bao gồm một phương diện cho thân, ngữ và tâm. Phương diện cho thân liên quan đến cái thường được gọi là giai đoạn phát triển, bao gồm việc quán tưởng mandala của vị bổn tôn hoặc vòng tròn các vị bổn tôn. Điều này diễn ra từ ba samadhi. Mandala của các vị bổn tôn được quán tưởng từ không gian bao la của ba thân. Đầu tiên là samadhi chân như, pháp thân. Samadhi của sự sáng tỏ là trạng thái báo thân. Cuối cùng là samadhi của chủng tử tự, hóa thân. Sự quán tưởng mandala và các vị bổn tôn này được gọi là hữu tình thệ nguyện (samaya being hay samaya sattva). Vào trong đó, bạn triệu thỉnh các hữu tình trí huệ (wisdom beings hay jnana sattva) từ trạng thái chưa hiển lộ của pháp giới. Bạn khẩn cầu chư vị quang lâm với số lượng lớn từ cõi Phật của pháp giới và hòa tan vào sự quán tưởng của bạn, trở nên bất khả phân với nó. Thông qua sự triệu thỉnh, bạn thỉnh cầu chư vị an tọa và lưu lại; sau đó bạn dâng lên những lễ vật cúng dường và những lời tán thán.
Tiếp theo là phần để hiện thực hóa ngữ của các vị bổn tôn, giai đoạn trì tụng, trong đó người ta trì tụng thần chú cốt tủy. Người ta nên chú ý đến một điều gọi là ‘chủ ý trì tụng’ trong khi tụng thần chú. Nó có bốn phương diện, được gọi chung là ‘bốn phần của chủ ý trì tụng gồm tiếp cận, tiếp cận trọn vẹn, thành tựu, và đại thành tựu.’
Phần đầu tiên, tiếp cận, được mô tả bằng ví dụ tương tự như ‘mặt trăng với một vòng những ngôi sao,’ phần thứ hai, tiếp cận trọn vẹn, với ‘một vòng đuốc lửa xoay tròn.’ Thành tựu được mô tả như những ‘sứ giả của nhà vua,’ trong khi đại thành tựu là ‘tổ ong vỡ tung.’ Một phương diện khác liên quan đến việc áp dụng các hoạt động (tứ pháp) để bình ổn (tức tai), gia tăng (tăng ích), lôi cuốn (kính ái) và khuất phục (hàng phục). Tất cả những điều này là những phương diện cụ thể của việc quán tưởng trong khi trì tụng các thần chú.
Sau khi trì tụng thần chú một số lượng nhất định, nếu một người muốn tích lũy một lượng công đức to lớn, họ có thể thực hiện một pháp cúng dường tiệc tịnh tài (ganachakra hoặc tsok). Từ gana có nghĩa là sự ‘tích tập’ công đức, các vật phẩm của bữa tiệc, các hành giả và các vị bổn tôn trí tuệ. Nó cũng là một sự tạ ơn, giống như việc nói ‘cảm ơn rất nhiều’ đến tất cả chư bổn tôn vì đã lưu lại như sự hiện diện này và vì đã ban tặng những thành tựu.
Trong một ganachakra, người ta thường lặp lại những cúng dường và những lời tán thán. Theo truyền thống, có một thọ nhận của sự thành tựu kết hợp với thần chú, cũng như một lời sám hối về bất kỳ lỗi lầm hay thiếu sót nào đã phạm phải, theo sau là chú trăm âm.
Nếu một người không làm một cúng dường tiệc tịnh tài, phần tiếp theo trong cấu trúc sadhana là phiên bản riêng của nó về giai đoạn thành tựu. Điều này có hai phương diện: hòa tan và hiển lộ trở lại. Hòa tan có nghĩa là mandala cùng các vị bổn tôn hiển lộ từ sự thanh tịnh bản nguyên như là sự hiện diện tự phát sẽ hòa tan trở lại vào sự thanh tịnh bản nguyên. Bất cứ phẩm tính hiện diện tự phát nào được biểu lộ đều hòa tan trở lại vào trạng thái thanh tịnh bản nguyên mà từ đó chúng khởi sinh lúc ban đầu. Tuy nhiên, người ta không ở lại đó trong một trạng thái chưa hiển lộ. Một lần nữa, ta lại xuất hiện trong hình tướng, lần này là hình tướng duy nhất của vị tôn chủ của mandala.
Trong khi duy trì sự hiện diện sống động của việc là vị bổn tôn, bất cứ thứ gì được nhận thức đều là hình tướng linh thánh. Bất cứ thứ gì được nghe đều là âm thanh của thần chú. Bất cứ thứ gì xuất hiện trong cõi tâm đều là sự phô diễn của tánh giác bản nguyên. Đó là sự tu tập liên tục cần được duy trì sau khi hoàn thành sadhana. Trong khi duy trì điều đó, người ta hồi hướng công đức, phát những lời nguyện, và tụng các dòng kệ cát tường. Việc hòa tan và hiển lộ cùng nhau này nhằm loại bỏ hai tà kiến cực đoan về sự thường hằng và hư vô, đó là thường kiến và đoạn kiến.
Cách thực hành này, trình tự này, là vô cùng thâm sâu. Một sadhana hiện thân tất cả các chủ ý của ba tantra nội trong sự áp dụng của một cá nhân. Nó cũng là một sự thực tập để thấy mọi thứ như chúng thực sự là—một phương pháp để gợi nhớ lại mandala của sự thanh tịnh cơ bản của tất cả những gì xuất hiện và hiện hữu. Đây là lý do tại sao Kim Cương thừa được gọi là con đường ngắn tối thượng.
Chư Phật giảng dạy theo nhiều cách khác nhau tùy theo nhu cầu của các loại người thọ nhận khác nhau. Khi những người thọ nhận thuộc căn cơ của Thanh Văn hay Duyên Giác, chư Phật không thể dạy ba nguyên lý về bổn tôn, thần chú và định (samadhi). Ba nguyên lý này được dạy ở một mức độ nào đó cho những người có căn cơ thuộc loại Đại thừa, nhưng không trọn vẹn. Những giáo lý đầy đủ, trọn vẹn chỉ được tìm thấy trong Kim Cương thừa thâm sâu.
Kim Cương thừa có hai phương diện chính, được gọi là các tantra ngoại và nội. Các tantra ngoại, gọi là Kriya, Upa và Yoga, cũng không đưa ra giáo lý trọn vẹn. Mặc dù các nguyên lý linh thánh được giới thiệu, nhưng trong Kriya Yoga, các vị bổn tôn luôn xuất hiện như những bậc siêu việt hơn bản thân ta và ta là một chúng sinh phàm tình thấp kém hơn. Vị bổn tôn giống như một vị vua trong khi ta là thần dân. Sự nhấn mạnh ở đây là vào sự thanh tịnh của vị bổn tôn. Trong Upa, quan điểm thay đổi một chút, sao cho vị bổn tôn được nhận thức giống như một người anh cả hơn là một vị vua. Trong Yoga Tantra, mối quan hệ giống như giữa những người bình đẳng, nhưng vẫn còn có tính nhị nguyên.
Quan điểm của các tantra nội thì hoàn toàn khác biệt. Mọi thứ ngay từ lúc ban đầu được chấp nhận là sự thanh tịnh bao trùm tất cả. Nói cách khác, bản thân thân xác này đã là một mandala của các bậc chiến thắng, theo nghĩa là năm uẩn trong bản tánh thanh tịnh của chúng là năm vị Phật nam. Năm nguyên tố là năm vị Phật nữ. Các căn, các thức và các đối tượng của chúng là các vị Bồ tát nam và nữ. Cũng bao gồm trong này là phẩm tính hóa thân của việc ghi nhận bản tánh thanh tịnh của các cảm xúc phiền não như là chư Phật của sáu cõi khác nhau.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một trong hàng ngàn vị Phật hóa thân của hiện kiếp này, và ngài chỉ an trụ ở một trong sáu cõi. Trong mandala của bốn mươi hai vị bổn tôn hiền hòa, tất cả chư Phật của sáu cõi đều được đại diện.
Mandala của bốn mươi hai vị bổn tôn này hiện diện ở trong trái tim của chúng ta ngay bây giờ, thậm chí cả khi không thực hành một sadhana nào. Và các hình tướng phẫn nộ của những vị bổn tôn này hiện diện bên trong cái được gọi là ‘lâu đài xương’, bên trong hộp sọ của chúng ta. Ở cổ họng chúng ta là mandala của các bậc trì minh vương thanh tịnh cùng các phối ngẫu. Tại luân xa rốn của chúng ta là Vajra Yogini. Trong luân xa bí mật là Vajra Kilaya, không phải như một vị bổn tôn duy nhất mà được bao quanh bởi toàn bộ vòng mandala bảy mươi tư vị tùy tùng của ngài, bao gồm những Kẻ Ăn Thịt và Uống Máu, Những Người Con Trai và Những Vũ Công.
Sự hiện diện của tất cả những vị bổn tôn này giống như những tia sáng phát ra từ mặt trời. Từ sự tỏa sáng của pháp thân, báo thân biểu lộ. Từ ánh sáng của báo thân, hóa thân khởi sinh để mang lại lợi ích cho chúng sinh. Mandala của thân thể con người chính là mandala hiện diện một cách cơ bản của các bậc chiến thắng. Bằng phương pháp thực hành một sadhana duy nhất này, một lượng lớn những ác nghiệp và che chướng đáng kinh ngạc được tịnh hóa. Đây là phẩm tính phi thường của Kim Cương thừa.
Kim Cương thừa được đặc trưng bởi việc có vô số phương pháp với chỉ rất ít những gian khổ, và phù hợp với những người có căn cơ sắc bén hơn. Đây là lý do tại sao Kim Cương thừa thật phi thường. Khi cô đọng tất cả những nguyên lý rộng lớn và thâm sâu vào những điều cơ bản nhất, mọi mandala của tất cả các vị bổn tôn đều được bao hàm trong sự hợp nhất bất khả phân duy nhất của tánh Không và sự rõ biết. Tu tập điều đó như là nguyên lý chính yếu sẽ cho phép bạn thành tựu trạng thái chung của tất cả chư Phật.
Kinh nghiệm thông thường của chúng ta bao gồm hai phương diện cơ bản, tâm và các đối tượng. Tâm và các hiện tượng. Tâm, trong tinh túy là vị Phật nam Phổ Hiền (Samantabhadra). Các đối tượng, trong tinh túy là vị Phật nữ, Phổ Hiền Phật Mẫu (Samantabhadri). Hai điều này—người hành động và hành động—đại diện cho tính bất nhị của kinh nghiệm và tánh Không. Bản thân tính bất nhị đó là nguồn gốc hay gốc rễ chính yếu của tất cả các vị bổn tôn mật điển (tantra).
Mọi thứ được nhận thức, mọi hình tướng được thấy, đều có bản tánh linh thánh; ‘mọi hiện tướng đều là bổn tôn’. Bất cứ điều gì được nghe thấy, mọi âm thanh, đều có bản tánh của thần chú. Mọi hoạt động của tâm đều có bản tánh của trạng thái giác ngộ, samadhi. Đưa điều này vào tâm, sử dụng một sadhana để nhắc nhở bản thân về sự thật này, là ghi nhận mọi thứ như chúng thực sự là. Đó là nguyên lý chính yếu của Kim Cương thừa.
Cách xem xét các hình tướng, âm thanh và hoạt động của tâm như là bổn tôn, thần chú và samadhi này liên quan đến việc liên hệ với mọi thứ theo một cách thức bên ngoài. Bên trong, chúng ta tập trung vào sự tu tập chính yếu là nhận biết sự rõ biết-trống không bất khả phân, cái chính là ba thân của trạng thái giác ngộ. Cuối cùng, chúng ta không duy trì bất kỳ sự phân chia nào giữa bên trong và bên ngoài trong sự tu tập của giai đoạn phát triển và thành tựu, giữa một bên là bổn tôn, thần chú và samadhi, và bên kia là sự nhận biết tinh túy tâm như là ba thân. Đó là một phẩm tính đặc biệt khác của Kim Cương thừa.
Kim Cương thừa cũng được đại diện bởi ‘bốn cánh cửa lớn’: thủ ấn (mudra), những cúng dường, trì tụng và samadhi. Theo truyền thống, chúng được mô tả như thế này:
Cánh cửa ngôn ngữ của sự nói là để nhắc nhở về cái tối thượng
Cánh cửa bí mật của thần chú là để thỉnh cầu những mật nguyện
Cánh cửa tâm của samadhi là để giữ sự nhất tâm
Cánh cửa hý lộ của thủ ấn (mudra) là để liên kết cử chỉ với ý nghĩa
Những điều này là vô cùng quan trọng. Khi quan sát một người biết bốn cánh cửa này và có thể biểu lộ hay áp dụng chúng, nó có thể trông giống như rất nhiều trò chơi trẻ con. Cử động đôi tay, di chuyển các đồ vật xung quanh trong không trung, tụng những giai điệu và bài trì tụng khác nhau, mặc trang phục, v.v.—tất cả những điều này có thể trông hoàn toàn như do tạo tác giả tạo. Một số người thấy điều đó cực kỳ hời hợt và không đúng trọng tâm. Họ có thể phàn nàn bằng cách nói rằng, “Điều chân thật, thực hành Phật giáo thực sự, chỉ là nhận biết tinh túy tâm.”
Những người nói điều này thiếu một sự hiểu biết đích thực về Kim Cương thừa, bởi vì tất cả bốn cánh cửa đều có ý nghĩa vô cùng to lớn và quan trọng, và không bao giờ được coi là vô nghĩa. Có nói rằng nếu ba yoga, nghĩa là ba tantra nội, bị ngắt kết nối với những giai điệu du dương, truyền thống của Kim Cương thừa sẽ phai nhạt và cuối cùng biến mất.
Người ta có thể tự hỏi việc thực hành một sadhana có ích lợi gì? Những lời mà người ta nói lớn tiếng lên là những lời nhắc nhở về mandala vĩ đại, tồn tại tự nhiên của bổn tôn, thần chú và samadhi. Tóm lại, việc áp dụng sadhana là một cách vô cùng thực tế và đơn giản để hiện thực hóa chủ ý của các tantra nội.
HỌC TRÒ: Có cách nào đơn giản để thực hành một vị bổn tôn duy nhất không?
RINPOCHE: Tất cả chư bổn tôn đều được bao hàm trong Kim Cương Tát Đỏa (Vajrasattva). Tất cả các thần chú đều được bao hàm trong thần chú Kim Cương Tát Đỏa. Và việc để tâm không tạo tác như nó tự nhiên là bao hàm tất cả các loại samadhi. Có nói rằng tinh túy của tất cả chư bổn tôn là Kim Cương Tát Đỏa, và nguyên lý của Kim Cương Tát Đỏa bao trùm vô lượng chư Phật hiền hòa và phẫn nộ.
Nó giống như ví dụ về một mặt trăng duy nhất trên bầu trời có thể được phản chiếu đồng thời trên bề mặt của một trăm ngàn vũng nước. Tất cả các hình ảnh phản chiếu đều xuất hiện từ cùng một nền tảng của sự hóa hiện. Khi các vũng nước khác nhau biến mất khỏi các vật chứa khác nhau, hình ảnh phản chiếu không bị bỏ lại phía sau—nó được hấp thụ lại bởi nguồn của nó. Nó không lưu lại ở bất cứ nơi nào khác. Theo cùng một cách, tất cả các vị bổn tôn khác, khi hòa tan, đều được bao hàm trong nguyên lý của Kim Cương Tát Đỏa.
Mối quan hệ giữa những sự hóa hiện và nền tảng của chúng là như thế này. Từ pháp thân, báo thân biểu lộ thành năm gia đình Phật, cũng như vô số hình tướng của chư bổn tôn hiền hòa, phẫn nộ và bán phẫn nộ. Có đủ mọi loại khác nhau—không có một số lượng cố định nào mà có vô số cách thức khác nhau mà chư Phật hóa hiện. Chư Phật thành tựu pháp thân cho ‘chính các ngài’ và phô diễn các sắc thân khác nhau của báo thân và hóa thân—hoàn toàn vì lợi lạc của những người khác. Các ngài hóa hiện chỉ nhằm mục đích giúp đỡ những chúng sinh không nhận biết được bản tánh của chính mình và những kẻ liên tục đi lạc vào sự tồn tại luân hồi.
Bằng phương tiện thiện xảo, chư Phật và chư Bồ tát xuất hiện dưới bất kỳ hình tướng thích hợp nào cần thiết để giáo hóa những chúng sinh mê lầm. Trạng thái giác ngộ có nghĩa là tất cả các mục tiêu cá nhân của các ngài đã được hoàn toàn thành tựu. Không còn gì hơn nữa để đạt được hay thành tựu, và vì vậy bất kỳ hoạt động nào các ngài thực hiện cũng hoàn toàn vì lợi ích của những người khác.
Không phải là những vị bổn tôn của sự hợp nhất giữa tánh Không và lòng bi này đã bỏ lại luân hồi phía sau để đạt được một trạng thái hạnh phúc cá nhân. Không phải là các ngài đang hạnh phúc trong ngôi nhà của mình và chỉ đơn giản là đóng sầm cửa lại. Cũng không phải là một hóa thân cụ thể nào đó xuất hiện trên thế giới vì lợi ích của riêng ngài, nhằm thực hiện một nhiệm vụ mà ngài đã để lại dang dở. Mọi mục tiêu cá nhân đã được hoàn toàn thành tựu. Hoạt động duy nhất mà chư Phật và chư Bồ tát tham gia vào là vì lợi ích của những người khác. Hoàn toàn không còn lại một mục đích ích kỷ nào. Vì lòng bi mẫn đối với vô số chúng sinh đang trôi lăn trong luân hồi, tất cả vô lượng những sự hóa hiện và tái hóa hiện xuất hiện từ những phương tiện thiện xảo. Chúng ta không bao giờ nên nghĩ rằng chư Phật và chư Bồ tát buồn chán và do đó cần phải đi dạo một chuyến, phô diễn tất cả các hình tướng khác nhau vì niềm vui và sự giải trí của riêng các ngài.
Tất cả chúng sinh chúng ta đều sở hữu Phật tánh như là bản tánh của tâm mình, và bản tánh đó hoàn toàn đồng nhất với nền tảng hóa hiện của Đức Phật Phổ Hiền. Nền tảng cho sự hóa hiện là pháp thân (dharmakaya). Bản thân những sự hóa hiện là báo thân (sambhogakaya) và hóa thân (nirmanakaya). Báo thân được tạo thành từ ánh sáng cầu vồng. Người bình thường không thể nhận thức được báo thân hiển lộ, nhưng họ có thể nhận thức được các hóa thân. Một hóa thân trong hình tướng con người được mô tả là ‘thân kim cương bao gồm sáu nguyên tố’. Nói cách khác, nó là một thân vật lý mà bất kỳ ai cũng có thể gặp được, bất kể người đó có tri giác thanh tịnh hay bất tịnh. Ví dụ, khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trên thế giới này, ngài hiện hữu rõ ràng đối với tất cả mọi chúng sinh—từ lợn, chó cũng như con người. Ngài không giống như một hình tướng báo thân mà chỉ những vị Bồ tát ở cấp độ cao mới có thể nhìn thấy. Nền tảng hóa hiện giống như không gian, trong khi cái được hóa hiện giống như cầu vồng trên bầu trời.
Trạng thái pháp thân là tinh túy của chính chúng ta, nhưng chúng ta vẫn nghĩ về vị Phật pháp thân Phổ Hiền như là đang ở ‘trên kia’ và giáng trần ‘xuống đây’ để ban những giáo lý. Tuy nhiên, bản tánh của tâm chúng ta, tự thân Phật tánh của chúng ta, chính là vị Phật pháp thân. Bởi vì chúng ta thất bại trong việc ghi nhận sự thật này, pháp thân phải biểu lộ dưới những hình tướng hữu hình để chúng ta có thể hiểu được bản tánh của chính mình thực sự là gì. Do đó, pháp thân xuất hiện dưới một hình tướng như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người chỉ ra cho chúng ta thấy, “Hãy nhận biết tâm bạn! Đây là những gì bản tánh của bạn thực sự là!” Và ngài giải thích Phật tánh là như thế nào. Bằng phương tiện thiện xảo và lòng bi mẫn không thể nghĩ bàn, chư Phật xuất hiện để đưa chúng ta đi đúng hướng. Để nhắc lại, vô lượng chư bổn tôn và các đạo sư được hóa hiện để dạy cho chúng ta rằng bản tánh của chính chúng ta, Phật tánh và vị Phật pháp thân Phổ Hiền là không hề khác biệt. Ý nghĩa chân thực được Đức Phật tiết lộ cho chúng ta, dưới hình tướng của một con người xuất chúng sở hữu những tướng tốt và vẻ đẹp hoàn hảo.
Vì chúng ta không có khả năng tự biết được, một vị Phật được hóa hiện và dạy chúng ta cách nhận biết bản tánh của chính mình. Bản tánh của tất cả chúng sinh là Phổ Hiền. Người ta có thể chỉ đơn giản lặp đi lặp lại rằng mình là Phổ Hiền, nhưng việc lải nhải như vậy thực sự không giúp ích gì nếu người ta chưa thực sự chứng ngộ điều đó. Thông qua phương tiện thiện xảo và lòng bi mẫn, chư Phật dạy rằng thực tế thì “Ta là Phổ Hiền”. Vì chúng ta không thể tự mình chứng ngộ điều này, chư Phật đã dạy Đại Toàn Thiện (Dzogchen) và Đại Ấn (Mahamudra).
Khi Phật tánh hiện diện trong tất cả mọi người xuất hiện như thể ở bên ngoài chúng ta dưới hình tướng của một vị Phật màu xanh lam, Phật tánh của chúng ta được gọi là Phổ Hiền, vị Phật pháp thân. Khi nó được mô tả là hiện diện trong tất cả mọi người, nó chỉ đơn giản được gọi là Phật tánh.
Vì không phải tất cả chúng ta đều có thể gặp được hóa thân Phổ Hiền, nên báo thân đã xuất hiện, và sau đó trong đại kiếp này, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã xuất hiện và giảng dạy. Bởi vì tôi không biết rằng “Tôi là Phổ Hiền,” ngài phải đến như một vị đạo sư để giới thiệu cho tôi điều đó. Vị đạo sư nói, trong bản chất, “Bạn là ta. Ta thấm nhuần mọi thứ, mọi không gian, mọi thế giới, và mọi chúng sinh. Để bạn biết bạn là ta, ta sẽ dạy cái thấy, thiền định và hạnh”.
Phật tánh, pháp thân tràn ngập khắp mọi nơi. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn cần phải biết trạng thái pháp thân này, và nếu không có sự hỗ trợ của vị Thầy thì không có cách nào khác. Các bậc đạo sư được hóa hiện bởi vì chúng sinh không thấy được khuôn mặt tự nhiên của chính mình—bởi vì họ không nhận biết được bản tánh của chính mình. Nếu chúng sinh thực sự nhận biết được sự thật này, thì mọi thứ đã là pháp thân! Vì vậy, tóm lại, chư Phật phải xuất hiện để giảng dạy cho chúng sinh về trạng thái pháp thân. Những giáo lý này bao gồm Kim Cương thừa phi thường, và chính vì lý do đó mà chúng ta quán tưởng thân mình như là vị bổn tôn và ngữ của chúng ta là thần chú, và để tâm chúng ta an trụ trong samadhi.
Khi chúng ta tưởng tượng, “Tôi là một vị bổn tôn,” thì chính tâm đang nghĩ điều này; nó chỉ là một ý tưởng. Việc tạo ra một sự quán tưởng không nhất thiết có nghĩa là chúng ta biết Phật tánh của mình. Sự tạo tác không tạo ra Phật tánh—chẳng phải nó đã có sẵn trong chính mình sao? Nó không thể được tạo ra; nó hiện diện tự phát. Nếu bạn có thể tạo ra pháp thân, bạn cũng sẽ có thể tạo ra không gian. Trong bối cảnh của một sadhana, chúng ta chỉ nên để cho bản tánh của mình như cái nó thực sự là, cái không khác biệt với bản tánh của tất cả chư Phật. Chỉ cần đọc các dòng của sadhana trong khi để tâm bạn ở trạng thái tự nhiên và ba samadhi sẽ tự nhiên xảy ra. Đơn giản hãy nghĩ “Tôi là bổn tôn Kim Cương Tát Đỏa, ngữ của tôi là thần chú Kim Cương Tát Đỏa và tâm tôi là bất khả phân với Kim Cương Tát Đỏa.” Hãy an trụ như thế trong tánh tự nhiên không tạo tác.
Câu nói nổi tiếng, “Kim Cương Tát Đỏa là không gian bao la,” ám chỉ đến pháp thân, đến sự thật rằng Phật tánh của chúng ta là samadhi chân như,. Mật điển tiếp tục, “Không thể nắm bắt được như mặt trăng trong nước,” đây là ví dụ cho trạng thái báo thân, cái là samadhi của sự sáng tỏ, samadhi thứ hai trong ba samadhi. Bổn tôn Kim Cương Tát Đỏa khởi sinh “từ sự phô diễn của Phật Phổ Hiền” Ngài xuất hiện mà không sở hữu một tự tánh. Nếu Đức Kim Cương Tát Đỏa có xương thịt hoặc giống như đất đá, chúng ta có thể nắm bắt được ngài. Tuy nhiên, xuất hiện mà không có một tự tánh, thì giống như mặt trăng xuất hiện trong nước—bạn có thể nắm bắt được một hình ảnh phản chiếu trong nước không? Đức Kim Cương Tát Đỏa cầm một chày kim cương (vajra) và một chiếc chuông để cho thấy rằng hiện tướng và tánh Không là bất khả phân—chúng ta không thể tách rời hai điều này.
Cuối cùng, ở phần cuối của sadhana, khi chúng ta hòa tan vị bổn tôn và hiển lộ trở lại trong hình tướng của vị bổn tôn, chúng ta làm như vậy để loại bỏ những tà kiến sai lầm về sự thường hằng và hư vô (thường kiến và đoạn kiến).
Hãy hiểu hai nguyên lý này: nền tảng hóa hiện chính là pháp thân, và sự hóa hiện là báo thân và hóa thân. Kim Cương Tát Đỏa đến từ pháp thân Phổ Hiền. Tất cả các hình tướng khác nhau được mang lấy, chẳng hạn như các vị đạo sư khác nhau, yidam (bổn tôn), dakini (không hành nữ), daka (không hành nam), Hộ pháp, thần tài, chủ kho tàng, v.v., tất cả đều là những sự phô diễn của Phật Phổ Hiền. Ngài đại diện cho trạng thái pháp thân, xuất hiện theo nhiều cách khác nhau vì lợi lạc của chúng sinh.
Chúng ta nên ghi nhận và trân trọng sự phô diễn của lòng từ bi vô lượng này. Thực ra, bất cứ điều gì chúng ta gặp được trong các hình tướng và cách thức khác nhau mà trạng thái Phật quả được hóa hiện, đều là sự thể hiện của lòng bi mẫn to lớn đối với chúng ta, những người nhận biết. Chư vị hóa hiện để hướng dẫn chúng ta bởi vì chúng ta đang mê lầm và không nhận biết được bản tánh của chính mình. Tất cả chỉ đơn giản là vì lợi lạc của chính chúng ta. Chúng ta nên ghi nhận và trân trọng lòng bi mẫn vô cùng to lớn này.
Chúng ta được dạy rằng chúng ta có thể đạt được giác ngộ bằng cách thực hành Pháp, dấn thân vào các thiện hạnh và tránh xa những ác hạnh. Toàn bộ lý do cho điều này là bởi vì chúng ta có tiềm năng—bởi vì bản tánh của chúng ta là trạng thái giác ngộ. Một quặng vàng có tiềm năng tạo ra vàng khi nó được nung chảy, nhưng một khúc gỗ thì không có tiềm năng này vì nó không có bản tánh của vàng. Chúng ta có khả năng giác ngộ bởi vì bản tánh của chúng ta, trong tinh túy, vốn đã giác ngộ.
Để đánh thức chúng ta về sự thật này, pháp thân xuất hiện dưới những hình tướng khác nhau để giúp chúng ta nhận biết bản tánh của chính mình. Trạng thái giác ngộ xuất hiện dưới vô số hình tướng không thể nghĩ bàn để giáo hóa chúng sinh. Chúng ta nên ghi nhận rằng bất cứ thứ gì xuất hiện trước mặt chúng ta trong trường kinh nghiệm của mình và hướng tâm chúng ta về việc nhận biết bản tánh của chính mình—cho dù đó là một người bạn tâm linh (thiện tri thức), một hình ảnh hay bất cứ thứ gì khác—đều là một sự hóa hiện của vị Phật pháp thân. Điều đó đang thể hiện cho chúng ta thấy một lòng bi mẫn vô cùng to lớn.
HỌC TRÒ: Làm thế nào để thực sự sắp xếp được thời khóa thực hành từ sáng đến tối nếu một người phải đi làm?
RINPOCHE: Có một cách sắp xếp mà Thầy cảm thấy rất thực tế. Vào buổi sáng, bạn bắt đầu một sadhanavà thực hành cho đến phần trì tụng. Bạn trì tụng bao nhiêu tùy thích vào thời điểm đó.
Ngay lập tức, không bỏ lại sadhana phía sau, hãy đi và bắt đầu làm công việc hàng ngày của bạn. Vào cuối ngày, hãy ngồi xuống lại và trì tụng các nguyên âm và phụ âm, lặp lại các cúng dường, những lời tán thán và thần chú tịnh hóa. Sau đó, đưa sadhana đến phần hồi hướng.
Theo cách này, cả ngày của bạn là một phần của sadhana. Điều này vô cùng quan trọng. Người ta không nên nghĩ rằng việc thực hành chỉ diễn ra khi ngồi xuống tại bàn thờ mà đúng hơn hãy xem việc thực hành là diễn ra thường xuyên nhất có thể mỗi khi người ta có thể tự nhắc nhở bản thân. Đó mới là điều thực sự quan trọng.
Thực hành không chỉ là thần chú và sự quán tưởng; nó là việc nhận biết tinh túy tâm. Bạn không nên nghĩ rằng việc nhận biết tinh túy tâm chỉ giới hạn trong việc ngồi xuống trên tọa cụ thiền định. Nó có thể diễn ra trong khi đi lại, trong khi nói chuyện, trong khi ăn uống, trong khi làm việc, v.v. Việc những hoạt động này có trở thành sự thực hành hay không phụ thuộc vào việc bạn có nhắc nhở bản thân nhận biết tinh túy tâm hay không. Đó là điều bạn nên nỗ lực vào, bởi vì đó là điều thực sự quan trọng.
Hãy cố gắng hết sức có thể để nhận biết trạng thái của tánh giác rigpa trong suốt thời gian ban ngày, từ lúc bạn thức dậy vào buổi sáng và tiếp tục trong suốt cả ngày. Ở giữa những lúc đó, trong những khoảnh khắc rảnh rỗi, bạn có thể trì tụng thần chú. Nếu không có cơ hội để làm như vậy, nếu có việc gì đó cần phải hoàn thành, thì hãy giải quyết nó. Tuy nhiên, trong khi làm việc đó, hãy lặp đi lặp lại việc tự nhắc nhở bản thân nhận biết [tinh túy tâm] và chỉ đơn giản cho phép trạng thái tự nhiên được duy trì liên tục. Đây là điều thực sự cần thiết. Thầy khuyến khích bạn thực hành theo cách đó.

