TRỰC NHẬN, KHAI MỞ DẦN - LOCH KELLY - VỀ MÁI NHÀ TỰ DO

TRỰC NHẬN, KHAI MỞ DẦN

LOCH KELLY

-------o0o-------

Chứng ngộ liên quan đến một tiến trình được gọi là nhận ra, rèn luyện và đạt được sự vững vàng. Nó tương tự như gieo hạt cho hoa. Bạn trồng cây, nuôi dưỡng cây, và cuối cùng cây lớn lên và đơm hoa. - TULKU URGYEN RINPOCHE
TRỰC NHẬN, KHAI MỞ DẦN - LOCH KELLY - VỀ MÁI NHÀ TỰ DO

Khi là một đứa bé, đi học rất khó đối với tôi. Tôi biết mình thông minh, nhưng tôi không thể đem những gì tôi biết trong đầu viết xuống giấy. Tôi đã có một giai đoạn gian nan để tập trung và giữ mọi thứ theo trật tự. Mặc dù lúc đó tôi không biết mình đã mắc một chứng nào đó của Rối loạn giảm chú ý (ADD) và chứng khó đọc. Lên lớp năm, tôi học chăm chỉ cho bài kiểm tra chính tả, tự nhủ: “Hãy nhớ từ ‘Europe’ (Châu Âu) bắt đầu bằng E-u và kết thúc bằng p-e”. Khi trả bài kiểm, tôi không hiểu tại sao mình lại làm sai. Tim, bạn tôi, hết sức lo lắng, đã cười lớn và nói, “Bạn đã viết Eupe”.

Khi bé, tôi rất thích chơi thể thao. Bạn nói tên môn nào, tôi đều yêu thích môn đó - chơi từ khu vực trong xóm và kết bạn bè đến chơi cho các đội tuyển. Tôi có thể tập trung, bình tĩnh và kết nối với những người khác khi chơi thể thao. Ở trung học, tôi là thủ môn cho đội khúc côn cầu trên băng. Suốt năm thứ hai, tôi đã chơi đặc biệt hay trong một trận đấu và giúp đội nhà ngăn cản đội đối phương.

Sau trận đấu, trong phòng thay đồ người bạn tốt Bruce ngồi xuống cạnh tôi. Bạn ấy nói: “Nầy, bạn đã làm một số pha cứu thua thật tuyệt đó”, “Làm sao bạn làm được điều đó vậy?”, “Chà, nếu bạn thực sự muốn biết...”. Tôi do dự, tự hỏi liệu tôi dám mô tả kinh nghiệm của mình thành tiếng, hoặc thậm chí nếu tôi có thể nói nên lời không. “Mình làm điều này gọi là ‘để mắt ở sau đầu’”, tôi bắt đầu. “Mình mở rộng tầm nhìn ngoại vi sang các bên đầu, sau đó mình để nó giữ ở đó – tất cả phía loanh quanh sau đầu. Sau đó, một sự thay đổi đáng kinh ngạc xảy ra: Thời gian trôi chậm lại. Mình cảm thấy mở rộng và kết nối với mọi thứ xung quanh mình. Bên trong mình thực sự yên tĩnh, và bên ngoài dường như cũng yên tĩnh lạ thường. Mình cảm thấy như một chú mèo: bình tĩnh, tỉnh táo và sẵn sàng di chuyển khi cần thiết. Thay vì mắt mình nhìn chằm chằm vào một thứ, tất cả các giác quan của mình dường như rộng mở lớn và cảm thấy như được kết nối với mọi thứ”.

Tôi hào hứng khi giải thích điều này thành tiếng với người khác, thay vì tự mình nghiền ngẫm nó. “Nó như thế này”, tôi tiếp tục với sự nhiệt tình. “Một anh chàng đánh một cú cực mạnh từ vạch xanh, và mình thấy bóng bay theo đường thẳng trong một hoặc hai bước chân đầu tiên. Nhưng rồi mình mất dấu nó trong ván tranh giành bóng với gậy. Sau đó, không cần nghĩ về nó, tay mình tự nhiên vung ra, và quả bóng đưa vào găng tay mình”.

Bruce nhìn tôi với ánh mắt mờ mịt. “Ồ, ngầu thật đó!”, cuối cùng bạn ấy nói trước khi bỏ đi.

Đội trưởng, sinh viên năm cuối, tình cờ nghe được từ tôi, vì anh ấy đã đến sau trận đấu tiếp theo và đưa cho tôi một cuốn Thiền Trong Nghệ Thuật Bắn Cung (Zen in the Art of Archery). “Nè, nhóc,” anh nói. “Đọc quyển này. Đúng với những gì em nói tuần trước đó”.

Tôi về nhà và đọc toàn bộ cuốn sách ngắn tối hôm đó. Tôi rất ngạc nhiên rằng những người khác cũng có những trải nghiệm tương tự như mình. Mặc dù tôi không hiểu mọi thứ trong cuốn sách, nhưng tôi rất ngạc nhiên về những điểm tương đồng giữa phương pháp Thiền với môn bắn cung và kinh nghiệm chơi các môn thể thao của chính tôi. Tác giả đã viết, “Trong trường hợp bắn cung, người bắn cung và bia bắn cung không còn là hai đối tượng đối lập, mà là một thực tại”. Phương pháp Thiền tông không chỉ giúp bạn cải thiện kỹ năng của mình mà còn biến môn thể thao thành nền tảng tập luyện cho một cách sống mới dựa trên trạng thái trôi chảy rõ biết một cách không nỗ lực.

Cuốn sách tiếp tục viết rằng loại thực hành Thiền tông này mang lại cảm thọ là “hoàn toàn trống không và thoát khỏi bản ngã”. Cụm từ này cảm thấy quen thuộc lạ kỳ nhưng làm hiếu kỳ. Khi tôi mở rộng giác và xả bỏ suy nghĩ về những gì tôi đang làm, tôi trở nên tỉnh táo, thảnh thơi và thành công hơn. Tôi cảm thấy trống không của ý niệm về bản ngã, nhưng song giống chân tánh của mình hơn. Tôi biết chính xác chuyện gì đang xảy ra, nhưng tôi không suy nghĩ! Những ý nghĩ như “Tôi có phạm sai lầm không?” hoặc “Hãy cố gắng hơn nữa!” đã vắng bóng. Tôi muốn biết thêm làm sao trải nghiệm cách sống này thường xuyên hơn. Nó có vẻ quan trọng đến mức tôi tự hỏi tại sao chúng ta không học điều này ở trường. Cuối cùng, tôi đã đến đích học cao học về tâm lý học và các tôn giáo học so sánh, mặc dù tôi không tìm thấy thứ mình đang tìm kiếm có trong lớp.

Một năm khi đang học cao học, tôi bị cảm lạnh kéo dài, và một bạn sinh viên cùng khóa gợi ý cho tôi đến gặp bác sĩ Chan, người từng là bác sĩ ở Trung Quốc trước khi trốn thoát trong cuộc Cách mạng Văn hóa. Bác sĩ Chan đã sống và làm việc trên tầng bốn thang bộ ở Khu Phố Tàu của Thành phố New York. Sau khi khám cho tôi, bác sĩ trộn một túi thảo mộc, lá và cọng thành một loại trà mà tôi sẽ mang về nhà. Bác sĩ Chan hứng thú khi tôi nói với ông rằng mình đang nghiên cứu về tâm linh và tâm lý học so sánh.

“Con có muốn điều trị cảm lạnh và căn nguyên của khổ đau không?” bác sĩ hỏi tôi, và cười.

“Căn nguyên của cảm lạnh?”. Tôi đáp lời, không chắc mình hiểu.

“Đúng, đó” bác sĩ tán thành và làm rõ sau đó, “nhưng cũng là căn nguyên của khổ đau”.

Tôi nói với bác sĩ rằng mình quan tâm.

Cùng với túi thảo mộc, bác sĩ cho tôi một cuốn sách theo Đạo gia, Bí Mật Của Bông Hoa Vàng (The Secret of the Golden Flower). Bác sĩ chỉ dẫn “Hãy uống trà này mỗi sáng và tối”. “Hãy đọc cuốn sách này mỗi ngày cho đến khi con đọc xong và quay lại sau một tuần”.

Khi trở lại vào tuần sau, tôi đã cảm thấy tốt hơn. Ngày hôm đó, Bác sĩ Chan đã dạy tôi cách thực hiện bài thực hành từ Bí Mật Của Bông Hoa Vàng gọi là “quay ánh sáng của giác lại”. Bác sĩ giải thích rằng ở Trung Quốc, thực hành này thường bị nhầm lẫn với thực hành tuần hoàn năng lượng. Bác sĩ Chan đánh giá cao các thực hành tuần hoàn năng lượng, nhưng ông nhấn mạnh rằng những thực hành này không giống như quay lại giác.

Tôi đã ghi lại những gì bác sĩ nói trong nhật ký của mình: “Giác có trước năng lượng, và giác nằm trong phạm vi năng lượng. Đầu tiên chúng ta thấy giác là gì và sau đó giác biết cái gì”.

Mặc dù tôi không thực sự hiểu chính xác những gì tôi phải làm khi Bác sĩ Chan đưa ra các trực chỉ đầu tiên, nhưng dù sao thì tôi cũng đã thử. Giác của tôi dường như đi ra, vào trong phòng, rồi quay lại để nhìn lại qua tâm và các ý nghĩ của tôi. Giác di chuyển qua những gì tôi cảm thấy là “tôi” - hoặc ít nhất là qua “tôi” mà trước đây dường như nằm trong đầu. Kết quả là một trải nghiệm tức thì của sự giải thoát khỏi cảm giác bản ngã nhỏ bé của mình và một cái giác vô biên mà tôi đang tìm kiếm bấy giờ. Tôi cảm thấy thông suốt, yêu thương và kết nối đến mức tôi thực sự đã cười thành tiếng. Đây không phải là trạng thái thiền tĩnh tâm; đó là một sự ngây thơ giản dị, tỉnh táo, hân hoan, đáng yêu và khôn ngoan - và tự nó đến. Tôi cũng cảm thấy nỗi buồn ngọt ngào, như thể tôi đang đoàn tụ với một người thân yêu khi trở về nhà. Những giọt nước mắt vui sướng bắt đầu trào ra trong mắt tôi trước sự thân quen và vẻ đẹp của vạn vật.

Tôi đã nói với Bác sĩ Chan về trải nghiệm thời thơ ấu của mình về “để mắt ở sau đầu”. Điều đó khiến ông hài lòng. Ông giải thích đây là một trong những giáo lý cổ xưa đơn giản nhất nhưng quý giá nhất như thế nào. Bác sĩ Chan cảm thấy những lời dạy này nên được chia sẻ với mọi người. Ông nói thêm rằng từ “truyền” đã bị hiểu lầm theo nghĩa là năng lượng hoặc sức mạnh đặc biệt của một truyền thống hoặc một vị thầy. Bác sĩ nói về các tổ chức và các đạo sư đã cố giữ bí mật những giáo lý đơn giản, cổ xưa này hoặc họ nhầm lẫn các thực hành này với năng lượng (chi hoặc prana), thiền tĩnh tâm hoặc các niềm tin tri thức. Năng lượng có thể được truyền từ người sang người, nhưng ánh sáng của giác vốn sẵn có trong mọi người như nhau và do đó không thể truyền từ người này sang người khác. Tất cả những gì một vị thầy có thể làm là trao trực chỉ cho những người khác. Người học phải tìm thấy giác bên trong chính mình; thậm chí có thể tình cờ phát hiện ra giác mà không cần một vị thầy hay truyền thống.

Sau khi tôi rời văn phòng của Bác sĩ Chan vào ngày hôm đó, nền tảng tỉnh giác đã tự duy trì một cách không nỗ lực suốt đêm và đến chiều hôm sau trước khi lề thói cũ là “tôi” bắt đầu quay trở lại. Thoáng hiện đó về chân tánh của tôi quá đơn giản đến mức nó khiến cho tôi tự tin. Điều độc đáo là tỉnh giác có thể được tiếp cận một cách có chủ ý và ngay lập tức. Ngay khi học được cách thực hiện dịch chuyển giác đơn giản, tôi có thể tự mình lặp lại sự siêu vượt vào tỉnh giác.

Năm sau, tôi tiếp tục chương trình học bổng du học. Tôi học thiền minh sát ở Tích Lan (Sri Lanka), sau đó học với các thầy ở Ấn Độ. Cuối cùng tôi đến Nepal, nơi tôi gặp vị thầy Phật giáo Tây Tạng Tulku Urgyen Rinpoche. Ngài đưa ra những trực chỉ đơn giản nhưng sâu sắc một cách tự do cho bất kỳ ai trong các khóa tu, và ngay cả trong suốt các buổi nói chuyện trước công chúng.

Trong các truyền thống Đại Viên Mãn (Dzogchen) và Đại Ấn (Mahamudra) của Phật giáo Tây Tạng, rigpa hay “tỉnh giác” là hệ điều hành trên nền tảng giác, trống không nhưng tích cực mà từ đó chúng ta có thể học cách sống. Hiện tại, chúng ta đang sống từ hệ điều hành trên nền tảng ý nghĩ, được gọi là sem. Sem tạo ra mê lầm dẫn đến tri giác nhị nguyên. Trực chỉ thường được gọi là “giới thiệu vào giác”. Trực chỉ là các gợi ý về cách thức và nơi tìm kiếm tỉnh giác như nguồn tâm của bạn. Trực chỉ là những cách thực dụng, đơn giản để nhìn xuyên qua nhận dạng nhầm của chúng ta bằng cách để tâm nhìn tâm, để giác nhìn giác.

Tôi đặc biệt bị thu hút bởi phong cách Kinh Đại Ấn của Phật giáo, trong đó mang đến sự tiếp cận với tỉnh giác và khả năng sống từ nó giữa cuộc sống hàng ngày. Những hành giả ban đầu áp dụng Đại Ấn không phải là người Tây Tạng cũng không phải tu sĩ; họ là một nhóm đa dạng gồm cả đàn ông và đàn bà đến từ Ấn Độ - nghệ sĩ, người bán hàng, người chữa bệnh, thành viên gia đình, chính trị gia, giới quý tộc và những người tầng lớp thấp - tất cả đều tham dự vào thế giới theo cách không giáo phái, không từ bỏ, không tinh hoa, không thể chế, không nghi thức và không hai.

Sam Harris, một nhà thần kinh học và là tác giả của cuốn Thức Tỉnh (Waking Up), người cũng từng học với Tulku Urgyen Rinpoche, viết về kinh nghiệm học hỏi này quý giá như thế nào đối với ông: “Tulku Urgyen chỉ đơn giản trao cho tôi khả năng cắt đứt thẳng ảo tưởng về bản ngã, ngay cả trong những trạng thái tâm thức bình thường. Hướng dẫn này, không nghi ngờ gì nữa, là điều quan trọng nhất mà tôi từng được dạy một cách rõ ràng bởi một cá nhân khác. Nó đã trao cho tôi cách thoát khỏi những xu thế khổ đau tâm lý thông thường - sợ hãi, giận dữ, xấu hổ - trong chốc lát”.

Trực Nhận và Khai Mở Dần Là Gì?

Trong một số truyền thống, có sự khác biệt được hiểu giữa tiệm ngộ và đốn ngộ. Nghịch lý thay, cách tiếp cận mở lòng giác không phải là một trong hai điều này và cả hai điều này. Ngay cả trong các truyền thống đều nhấn mạnh đến cách tiếp cận tiệm ngộ, vẫn có sự thừa nhận rằng đối với một số người cách tiếp cận thẳng có thể dễ dàng hơn. Cách Mạng Về Sự Chú Ý (The Attention Revolution), của Tiến sĩ B. Alan Wallace, vạch ra mười giai đoạn tu luyện thiền định tiến bộ từ truyền thống Tây Tạng. Bốn giai đoạn đầu tiên phát triển nhất tâm và rèn luyện để đạt thành chứng nhân có chánh niệm. Các giai đoạn từ năm đến bảy được gọi là “lắng tâm trong trạng thái tự nhiên của nó”, có nghĩa là thực hành tự tại và có sao để vậy tương tự như cách tiếp cận chỉ ngồi của Thiền tông. Wallace viết, “Từ giai đoạn thứ tám trở đi, chúng ta tiến sang thực hành vi tế lớn hơn để duy trì giác về chính giác”. Việc thực hành giác về giác “có thể là tối ưu ngay từ ban đầu cho những ai bị nó lôi cuốn mạnh mẽ”.

Mở lòng giác bắt đầu với giác về giác. Đó là một cách tiếp cận cốt lõi (essence), còn được gọi là cách tiếp cận thẳng. Chữ essence bắt nguồn từ gốc Latinh esse, có nghĩa là “bản chất”, nhưng nó không ngụ ý rằng có một chất bất biến trong cốt lõi của chúng ta. Thay vì làm, suy nghĩ hay tin tưởng, chúng ta bắt đầu bằng cách khám phá bản tánh cốt lõi của mình - và sau đó chúng ta có thể hành động từ đó. Thẳng đề cập đến khả năng tiếp cận bản tánh cốt lõi của chúng ta ngay lập tức, biết rằng nó có trọn vẹn ở đây và không cần phải sáng tạo ra hoặc phát triển lên.

Một số hình thức của cách tiếp cận cốt lõi xuất hiện trong hầu hết các truyền thống và nền văn hóa trên khắp thế giới, bao gồm thần bí Cơ đốc giáo, Sufi giáo, Do Thái Kabbalah, Thiền tông, Đại viên mãn và Đại Ấn Tây Tạng, Đạo giáo Trung Hoa, Tantric yoga, Advaita Vedanta và Shaman giáo. Cũng có vẻ quan trọng khi thừa nhận rằng trong suốt lịch sử, mọi người đã tường thuật về những tỉnh thức tự nhiên bên ngoài của bất kỳ truyền thống tôn giáo hay tâm linh nào.

Nhà thơ thế kỷ 19 Alfred Lord Tennyson đã viết về kinh nghiệm tìm hiểu của chính ông, được khám phá trong thời thơ ấu: “Điều này chợt đến với tôi qua việc lặp đi lặp lại tên của chính mình một cách thầm lặng, cho đến khi bất thình lình, vì nó nằm ngoài cường độ của tâm thức cá nhân, bản thân cá nhân dường như tan biến và khuất dần trong hữu thể vô biên, và đây không phải là một trạng thái mê lầm mà là rõ ràng nhất, chắc chắn nhất trong những điều chắc chắn nhất, hoàn toàn vượt ngoài lời nói - ở đó cái chết là một điều không thể, gần như nực cười - mất nhân tính (nếu đúng như vậy) dường như không có sự diệt vong, mà là sự sống đích thực duy nhất”.

Trực nhận là một kiểu gợi nhớ, không phải khả năng ghi nhớ thông tin, ký ức hoặc sự kiện tầm thường, mà là sự lộ ra sâu hơn về chân tánh của chúng ta. Trong tiếng Hy Lạp, từ chỉ sự thật là alethia, và từ đối lập của nó là lethe, có nghĩa là “tính hay quên” hoặc “sự lãng quên”. Trong các thần thoại Hy Lạp, nếu bạn uống nước sông Lethe - chảy qua địa ngục Hades - bạn sẽ quên mất mình là ai và ở lại đó, lạc lối và lang thang. Sự thật có nghĩa là gợi nhớ. Trải nghiệm về trực nhận giống như tỉnh giấc từ cơn mộng du: nó tiết lộ bạn luôn là ai.

Cách tiếp cận mở lòng giác tập trung vào việc mở lộ hoặc khám phá bản tánh cốt yếu của chúng ta và sau đó chuyển tầng tâm của chúng ta về sống từ mở lòng giác. Bởi vì tỉnh giác đã có sẵn ở đây, không cần phải cố gắng để kiếm được nó, tạo ra nó hoặc phát triển nó; cũng không hiệu quả khi áp dụng thái độ thụ động chờ đợi nó tìm đến chúng ta. Tỉnh giác, nền tảng của hữu thể, đều có sẵn trong mỗi chúng ta như nhau, như là cốt lõi của chúng ta. Tuy nhiên, chỉ tin vào điều này - hoặc hiểu nó một cách tri óc - là không đủ.

Một học trò mới than thở: “Tôi không hiểu nổi; điều này quá trí óc đối với tôi!”. Tôi đáp: “Nó có thể khó nắm bắt bởi vì bạn không cần sử dụng trí óc của mình chút nào; bạn không biết nó thông qua cách biết khái niệm thông thường của chúng ta được”. Phương pháp tiếp cận này không thuộc trí óc, khái niệm hoặc tuyến tính, vì vậy nó có vẻ bất thường, nghịch lý hoặc khó nắm bắt lúc ban đầu. Khi học trò này trực tiếp thoáng thấy tỉnh giác, cô ấy nhận xét, “Bây giờ tôi nhận ra! Điều này không phải quá trí óc. Nó rất đơn giản. Làm thế nào mà tôi có thể bỏ qua nó được nhỉ?”.

Tỉnh thức có nghĩa là cái biết trên nền tảng ý nghĩ không còn chế ngự tri giác của chúng ta. Chúng ta đang siêu vượt vào cách biết và hiện hữu trên nền tảng giác. Có thể có một khoảng thời gian mất phương hướng trước khi chúng ta trở nên có định hướng trở lại ở tầng tâm mới của mình. Chúng ta bắt đầu bằng cách thoáng thấy mục tiêu cuối cùng, mục tiêu đã có sẵn ở đây. Thay vì thực hiện bất kỳ kỹ thuật nào để làm dịu tâm huyên thuyên, chúng ta bắt đầu bằng một thoáng thấy thẳng tỉnh giác, vốn đã điềm tĩnh, sáng dạ, yêu thương và bao trùm.

Cách tiếp cận mở lòng giác bắt đầu với các phương pháp được chỉ định dẫn đến việc trực nhận tỉnh giác. Sau khi trực nhận, có một sự khai mở dần khi chúng ta tái hòa nhập các cảm xúc, ý nghĩ và chức năng bình thường từ tỉnh giác. Truyền thống Đại Ấn có những thực hành để kết nối và hòa lẫn giác tuyệt đối với cuộc sống vật chất thông thường của chúng ta.

Sự tỉnh thức thông qua cách tiếp cận này trước hết là đối mặt với tính vô ngã của giác. Trực nhận tỉnh giác ban đầu này tạo thành một tiến trình tiếp diễn với sự khai mở dần. Một số truyền thống nhấn mạnh sự cần thiết của các thực hành sơ bộ như là sự chuẩn bị khai tâm cho giác về giác để chúng ta không đánh giá thấp sự nhận ra và quay trở lại giấc ngủ của vô minh. Sự rèn luyện của cuộc sống hiện đại làm phát triển cảm xúc cũng như các kỹ năng tập trung và kỷ luật. Những ai có hay không có hành thiền hiện tại đều có khả năng bắt đầu với giác về giác nếu họ được thúc đẩy. Trong cách tiếp cận mở lòng giác, điểm nhấn là những lời dạy sau khi nhận ra và trau dồi tiến trình biểu hiện.

Một cách để hiểu tiến trình trực nhận và khai mở dần là chia nó thành các giai đoạn: nhận ra, chứng ngộ, vững vàng và biểu hiện. Nhận ra là thoáng thấy đầu tiên của chúng ta về tỉnh giác. Chứng ngộ là một sự siêu vượt về nhận dạng, khi chúng ta đi tới việc hiểu rằng mình đang nhìn từ tỉnh giác, điều đã trở thành nền tảng cho sự hiện hữu của chúng ta. Sự vững vàng bắt đầu khi tỉnh giác là cách biết chính của chúng ta. Biểu hiện xảy ra khi chúng ta khám phá mở lòng giác và kết nối lại bộ não của chúng ta để sáng tạo và liên hệ từ đây.

Cách tiếp cận mở lòng giác đi thẳng vào gốc rễ khổ đau của chúng ta và tiết lộ sự vắng bóng của bản ngã và hiện diện của những phẩm chất tự nhiên, tích cực. Sự siêu vượt vào tỉnh giác là một sự siêu vượt vào một cách biết và hiện hữu mới mẻ toàn bộ. Cái không biết đến cùng với sự siêu vượt ban đầu khỏi tâm thường ngày. Với hương vị đầu tiên của cái không biết, sẽ có sự tự do bao la khỏi việc điều khiển, kháng cự, phán xét và kiểm tra suy nghĩ mọi lúc. Nhưng cái không biết không phải là đỉnh điểm của tiến trình. Cái không biết là cách biệt hoặc cầu nối dẫn đến một cách biết mới rất khác, một kiểu không biết mà biết.

Cái không biết là sự tự do khỏi sự đồng hóa bản ngã, trong khi cái không biết-mà-biết có lẽ là yếu tố quan trọng nhất cho sự vững vàng và biểu hiện. Học cách siêu vượt vào tỉnh giác không phải là một tiến trình học hỏi trí óc hay khái niệm. Bạn chỉ có thể thực sự biết tỉnh giác khi bạn đã siêu vượt vào nó và biết từ nó.

Điều quan trọng nhất không phải chỉ là trực chỉ ban đầu về tỉnh giác mà là “tu tập để duy trì”. Chúng ta bắt đầu tiến trình với việc nhận ra vô ngã và cái không biết, sau đó chúng ta tiếp tục bằng cách chứng ngộ rằng tỉnh giác và cái biết vô niệm là nền tảng hữu thể của chúng ta. Tiếp theo, chúng ta trải nghiệm sự hiện diện hợp nhất sẵn có, sau đó chúng ta siêu vượt vào nhìn và biết từ tỉnh giác, và cuối cùng chúng ta bắt đầu hoạt động từ hợp nhất, mở lòng giác.

Từ thiền trong tiếng Tây Tạng, sgom, được dịch là “làm quen”. Để an trú trong tỉnh giác, chúng ta phải thoáng thấy nó nhiều lần và làm quen với cái thấy từ tầng tâm mới này. Có một điệu nhảy buông bỏ đang diễn ra và vừa quen thuộc với tỉnh giác như nền tảng hữu thể của chúng ta. Làm quen là một loại điều chỉnh, thấm nhuần trong tỉnh giác, kết nối lại thân và tâm của chúng ta với hệ điều hành trên nền tảng tỉnh giác mới.

Toàn bộ hệ thống thân tâm của chúng ta đã bị trói buộc bởi những nỗ lực chống trả nỗi đau do nhận dạng nhầm của chúng ta gây ra. Vì lý do này, hầu hết chúng ta đều trải qua một tiến trình khai mở bao gồm cởi mở hơn, thanh lọc và dần dần kết nối lại những mạng lưới thần kinh của mình. Chúng ta học cách vượt qua những nỗi đau ngày càng lớn và đón nhận những cảm thọ và nhân cách phụ bị chối bỏ - trong khi tất cả những nút thắt năng lượng và niềm tin dần dần được giải tỏa. Chúng ta học cách trở về nền tảng hữu thể của mình, và rèn luyện để ở lại đây. Việc siêu vượt sang một tri giác, cái biết và nhận dạng mới dẫn đến sinh khí mới. Kết quả là, chúng ta khám phá sự thúc đẩy mới và biểu hiện sáng tạo.

Điều quan trọng là bạn phải khám phá ra những thực hành sơ bộ nào, nếu có, là hữu ích nhất cho bạn trong việc chuẩn bị để siêu vượt. Bạn có thể đã biết những cách để lắng thân và tâm của mình. Bạn có thể bắt đầu với yoga, tập trung vào hơi thở, thiền âm thanh hoặc chánh niệm chủ tâm như một bàn đạp ban đầu. Tuy nhiên, bạn chỉ có thể xoa dịu thú tính trong thân và làm dịu tâm trong những khoảng thời gian ngắn trước khi trở nên bị kích động hoặc căng thẳng trở lại.

Đừng để bị mắc bẫy của việc chỉ thực hiện những thực hành sơ bộ; hãy sử dụng những thực hành cho đến khi chúng đáp ứng mục đích của chúng. Chẳng hạn, hãy thực hành thiền nhất tâm cho đến khi tâm huyên thuyên của bạn lắng dịu. Thực hành chánh niệm chủ tâm cho đến khi bạn thấy rằng mình không phải là một cái tôi nhỏ bé, trên nền tảng ý. Sau đó, hãy thực hiện bước tiếp theo sẽ cho phép bạn thoáng thấy tỉnh giác - bước mà bạn có thể gọi là “xả bỏ”, “quy thuận”, “chuyển giao”, “tháo gỡ”, “siêu vượt” hoặc “hòa tan”.

Một khi chúng ta đã chuyển sang giác - trên nền tảng cách biết, thì một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới bắt đầu - điều mà trước đây là không thể. Mỗi người chúng ta đều có những nút thắt hoặc những loại kháng cự khác nhau, vì vậy mỗi người chúng ta cần sử dụng những cách chuẩn bị khác nhau trước khi xả bỏ. Khi chúng ta tỉnh thức, điều quan trọng là tiếp tục phát triển các lĩnh vực thể chất, cảm xúc, tinh thần và quan hệ. Phát triển trong các lĩnh vực khác của cuộc sống hỗ trợ chúng ta khai mở. Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể trưởng thành đến một mức độ phát triển nhất định mà không có sự siêu vượt, điều mà thức tỉnh nhận dạng mang lại. Từ ý niệm mới về nhận dạng của chúng ta, nhiều vấn đề và ràng buộc cảm xúc mà chúng ta đang trải qua tự nhiên nới lỏng và chúng ta mở ra một triển vọng tươi mới. Chẳng có cách đúng duy nhất nào để tiếp cận tỉnh giác hoặc chuyển tiếp vào sống từ nó, nhưng có một số nguyên lý và cửa ngõ chung.

Những Cửa Ngõ của Trực Nhận

Hai phương pháp phổ biến nhất để trực nhận chân tánh của chúng ta là phương pháp tìm và phương pháp nghỉ. Truyền thống thần bí Kitô giáo gọi hai cách tiếp cận này là Via Positiva (phương pháp tích cực/phương pháp tìm) và Via Negativa (phương pháp phủ định/phương pháp nghỉ). Via Positiva gợi ý: “Hãy tìm, rồi bạn sẽ thấy”. Via Negativa gợi ý: “Hãy từ bỏ việc tìm kiếm, rồi bạn sẽ thấy”. Hầu hết các con đường thiền đều bao gồm các phương diện của cả hai phong cách này. Ngoài ra, cả Phương pháp tích cực và Phương pháp phủ định đều thống nhất rằng đồng hóa bản ngã là trở ngại cho sự tỉnh thức.

Phương pháp phủ định không có nghĩa là tiêu cực. Đó là một cách để phủ nhận tất cả nhiều thứ che khuất sự thật sống động của hữu thể chúng ta. Đó là thực hành tâm linh để giải cấu trúc, hòa tan và xả bỏ những gì không phải là chân tánh của chúng ta. Chúng ta học cách nghỉ ngơi cho đến khi những gì ràng buộc và làm chúng ta mù quáng cuối cùng được nới lỏng. Việc tìm kiếm bạn là ai bắt đầu bằng việc xả bỏ mọi thứ và xem ai hoặc cái gì đọng lại. Hình thức phổ biến nhất của trải nghiệm này là ngồi thiền.

Phương pháp tích cực, hay phương pháp tìm, là cách tìm kiếm tinh thần, thực tại, tỉnh giác hoặc chân tánh một cách đơn giản và trực tiếp nhất có thể. Phương pháp tìm cụ thể mà chúng ta sẽ khám phá là một hình thức tìm hiểu trong đó chúng ta chủ ý và trực tiếp quay giác lại để thấy rằng giác là nguồn tâm và nền tảng hữu thể của chúng ta.

---o0o---

Tác giả: LOCH KELLY

Trích từ: Về Mái Nhà Tự Do-Nguyên tác: Shift Into Freedom; Minh Hằng dịch Việt @2023.

Ảnh: nguồn Internet.

Bài viết liên quan