CON ĐƯỜNG TỊNH ĐỘ CHÂN TÔNG
Trích: HEART OF THE SHIN BUDDHIST PATH - A Life of Awakening
Tác giả: TAKAMARO SHIGARAKI
Viên Từ dịch
-------o0o-------
-Con Đường Mà NgàiThân Loan Đã Đi Qua
Giờ đây, chúng ta có thể xem xét một cách chi tiết hơn về con đường đạt đến Phật quả trong Tịnh Độ ChânTông, vốn được thiết lập bởi ngài Thân Loan.
Cốt lõi thực hành của con đường Phật giáo Tịnh Độ, được truyền thừa từ Ấn Độ qua Trung Hoa và Nhật Bản, về cơ bản là nghe Danh hiệu của Đức Phật A Di Đà trong khi xưng tán Danh hiệu ấy. TrongPhật giáo Tịnh Độ của Ấn Độ và Trung Hoa, người ta cũng dạy rằng một người phải xưng Danh hiệu đồng thời với việc tích tập các thiện căn, nghĩa là thực hiện các pháp thực hành khác như lễ lạy, chánh niệm, v.v... Theo thời gian, giáo pháp đó dần được tinh lọc. Tại Nhật Bản, nó cuối cùng đã truyền đến ngài Pháp Nhiên (Hōnen, 1133–1212), ngài dạy rằng tất cả các thiện căn khác ngoài việc xưng Danh hiệu đều tuyệt đối không cần thiết; chỉ riêng pháp thực hành niệm Phật đã là quá đủ. Thông qua cuộc gặp gỡ với ngài Pháp Nhiên, ngàiThân Loan đã học được giáo pháp Tịnh Độ mới mẻ này, để rồi sau đó ngài đã làm cho nó trở nên ảnh hưởng sâu rộng và mang tính cá nhân mạnh mẽ hơn nữa.
- Thực Hành Niệm Phật Liên Tục
Chúng ta hãy cùng thảo luận về việc thực hành niệm Phật trên con đường Phật quả và ý nghĩa của câu "Nam mô A Di Đà Phật" trong tư tưởng của ngàiThân Loan.
"Nam mô" (Namu) là cách phiên âm tiếng Nhật bắt nguồn từ các từ Ấn Độ cổ là "namo" hoặc "namas", mang ý nghĩa là quy y. Do đó, xướngniệm "Nam mô A Di Đà Phật" là pháp thực hành dễ dàng nhất, bởi hành động quy y Đức Phật A Di Đà đơn giản đó đã bao gồm cả nguyện vọng (nguyện) và sự thực hành (hạnh) của chúng ta trên con đường đạt đến Phật quả.
Trong Phật giáo Tịnh độ tại Nhật Bản trước thời ngàiThân Loan, việc trì Danh hiệu mang hình thức "thực hành niệm Phật liên tục". Đây là một thời khóathực hành tập trung, đòi hỏi người thực hành phải niệm Danh hiệu một cách chuyên nhất và liên tục tại một địa điểm nhất định trong một khoảng thời gian cố định. Người ta tin rằng nếu"thực hành niệm Phật liên tục", chắc chắn sẽ chứng ngộ được trải nghiệm thức tỉnh. Đây vốn là con đường thực hành căn bản trong giáo lý Tịnh độ khi được truyền từ Trung Hoa sang Nhật Bản.
Ban đầu, việc tập trung "thực hành niệm Phật liên tục" có thể được thực hiện tại nhiều địa điểm khác nhau trên khắp Nhật Bản. Trên núi Tỷ Duệ (Mt. Hiei), nơi ngài Thân Loan đã nỗ lực tu tập trong suốt hai mươi năm lúc trẻ, có một ngôi điện thờmang tên "Thường hành Đường". Điện thờtu tập đó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Ban đầu có rất nhiều tòa điện thờnhư vậy trên núi Tỷ Duệ, nhưng hiện nay chỉ còn lại duy nhất một điện thờ này. Ở chính giữa ngôi điện thờrộng khoảng 9 mét vuông, tôn tượng đức Phật A Di Đà được an vị trang nghiêm. Đó chính là nơi “thực hành niệm Phật liên tục", hay còn được gọi là "Thường hành Tammuội" (constant practice samādhi).
"Thường hành Tammuội" là một phương pháp thực hành cực kỳ mãnh liệt. Khi bước vào điện, người thực hành vừa niệm Phật vừa đi bộ theo chiều kim đồng hồ quanh tôn tượng đức Phật A Di Đà, thực hành liên tục ngày đêm không nghỉ trong suốt chín mươi ngày. Như vậy, "Thường" có nghĩa là không nghỉ ngơi dù là ngày hay đêm. "Hành" (thực hành) đề cập đến các hành động đi bộ và trì niệm danh hiệu Phật. "Tammuội" là trải nghiệm định tâm và quán tưởng đức Phật, từ đó tương ưng gặp gỡ Ngài. Người thực hành được phép ăn ba bữa mỗi ngày, nhưng thức ăn được mang vào điện và phải đứng để ăn. Bên cạnh điện thờcó nhà vệ sinh. Tuy nhiên, người thực hành tuyệt đối bị cấm nằm nghỉ. Nói một cách đơn giản, người thực hành phải tiếp tục đi bộ trong điện thờ, vừa tha thiết niệm Phật suốt ngày đêm trong chín mươi ngày. Đây chính là cách thực hành trì Danh hiệu cực kỳ mãnh liệt từng tồn tại trên núi Tỷ Duệ. Người ta tin rằng trong những năm tháng tuổi trẻ, ngài Thân Loan cũng đã từng tu tập tại ngôi điện thờ Thường hành Đường này.
Cách đây một thời gian, tôi đã có cơ hội gặp gỡ một vị tăng sĩ Thiên Thai tông từ núi Tỷ Duệ, người đã từng thực hành pháp môn "Thường hành Tammuội" gian khổ này, và được nghe ông chia sẻ về trải nghiệm đó. Ông cho biết vào thời cổ đại, có rất nhiều tăng sĩ dấn thân vào pháp môn này. Tuy nhiên, kể từ đầu thời kỳ Minh Trị (Meiji), không một ai thực hiện nó trong suốt hơn một trăm năm. Theo các ghi chép xưa, nhiều người tham gia thực hành đã đổ bệnh và qua đời, hoặc phát điên giữa chừng.
Theo lời vị tăng sĩ, khoảng mười ngày sau khi bắt đầu thực hành, cả hai chân của ông sưng vù lên, đau đớn đến mức ông cảm thấy như thể mình đang bước đi trên những mũi kim. Việc trì niệm danh hiệu Phật liên tục khiến cổ họng ông khô khốc, và sau một thời gian, giọng ông mất hẳn. Cả năng lượng và sức chịu đựng của ông đều suy giảm. Những nỗi đaukhổ ập đến quá lớn và ông cảm thấy nếu tình trạng này tiếp diễn, ông chắc chắn sẽ chết. Lúc đó, ông đã nghĩ đến việc bỏ cuộc, nhưng vì ông đã dấn thân vào pháp môn này bất chấp sự phản đối của nhiều người, ông cảm thấy mình không thể dừng lại dễ dàng như vậy. Ông cũng từng cân nhắc đến việc bỏ trốn trong lúc đang thực hành. Tuy nhiên, sau đó ông nghĩ về sự bao la của núi Tỷ Duệ và về việc sẽ buồn bã biết bao nếu ông trốn vào rừng sâu rồi chết ở đó mà thi thể không bao giờ được tìm thấy.
Với những xáo động cứ lặp đi lặp lại trong tâm trí như thế, ông vẫn tiếp tục đi quanh điện thờvà niệm Phật. Chẳng bao lâu sau, ông nhận ra rằng hơi thở, tiếng niệm Phật và bước chân của mình đã hòa quyện thành một nhịp điệu nhịp nhàng, và ông đã có thể bước đi một cách khá thoải mái. Tôi không hoàn toàn hiểu rõ điều đó đã xảy ra như thế nào, nhưng ông thuật lại rằng khi ông đặt chân này nối tiếp chân kia, từng bước một, chuyển động của bước chân, việc hít vào thở ra, và tiếng trì niệm danh hiệu Phật, tất cả đều rơi vào một nhịp điệu tuyệt vời, thông suốt, và từ đó ông có thể bước đi một cách dễ dàng.
Dù thế nào đi nữa, ông đã thực hiện pháp môn gian khổ này trong suốt chín mươi ngày theo cách đó. Vị tăng sĩ cũng giải thích rằng, khi thực hiện pháp môn này, tâm trí ông dần trở nên vô cùng sáng suốt, vàông có thể quán tưởng thấy những vườn hoa rực rỡ và gặp gỡ đức Phật rất nhiều lần. Đó là loại trải nghiệm tâm linh sâu sắc và huyền bí mà ông đã chứng ngộ. Khi lắng nghe vị tăng sĩ mô tả những trải nghiệm của mình, tôi nhận thức rõ ràng về cường độ và chiều sâu trong việc thực hành niệm Phật của ngài Thân Loan trên núi Tỷ Duệ.
- Sống Trong Niệm Phật
Sau khi rời núi Tỷ Duệ, ngàiThân Loan đã gặp ngàiPháp Nhiên và học được một cách thức niệm Phật khác biệt hoàn toàn với "Thực hành niệm Phật liên tục". Trong cách thực hành mới này, người ta có thể niệm Phật một cách tự do ngay giữa đời sống hằng ngày. Người ta có thể trì Danh hiệu suốt cả cuộc đời, vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu mà không cần phải tìm đến một địa điểm đặc biệt hay dành riêng một khoảng thời gian cố định nào.Trên con đường này, khi một người tiếp tục trì niệm danh hiệu Phật trong đời sống hằng ngày – dù đang bận rộn với bất kỳ công việc nào, hay khi đang thức hoặc đang ngủ tại nhà – thì cuối cùng họ vẫn có thể trải nghiệm sự thức tỉnhvà gặp gỡ đức Phật giống như một vị tu sĩ ẩn dật. Trái ngược với phương pháp "Thực hành niệm Phật liên tục" như "Thường hành Tammuội" trên núi Tỷ Duệ mà chúng ta đã thấy trước đó, cách thực hành này có thể được gọi một cách chính xác là "Niệm Phật trong đời sống hằng ngày". Về sau, ngài Thân Loan đã kết hôn (1210 – năm 37 tuổi) và duy trì cách sống của một cư sĩ tại gia, vàngài tiếp tục niệm Phật như một pháp môn chuyên nhất mỗi ngày. Do đó, có thể nói rằng ngài đã bước đi trên con đường của "Niệm Phật trong đời sống hằng ngày" này.
Dựa trên những gì đã học từ người thầy của mình là ngài Pháp Nhiên, ngài Thân Loan đã khai sáng con đường niệm Phật mới này, một con đường mà các cư sĩ tại gia có thể sống theo được. Chính Học giả D.T. Suzuki (1870-1966) đã dịch cụm từ niệm Phật này sang tiếng Anh là "true living" (sống thật). Tôi nghĩ rằng đây là một bản dịch tuyệt vời và thích hợp, vì vậy tôi đã chọn gọi đây là con đường "Sống trong niệm Phật". Đây chính là ý nghĩa của "Niệm Phật trong đời sống hằng ngày": giữa những hoàn cảnh của đời sống hằng ngày với những nhiễm ô của thế gian, chúng ta luôn nhớ nghĩ đến Đức Phật và niệm Phật trong bất kỳ trạng thái nào mà chúng ta đang gặp phải – dù đang cười hay khóc, đang giận dữ hay hạnh phúc.
Thông qua tiếng niệm Phật được thực hành mỗi ngày trong đời sống, một con đường mở ra trước mắt chúng ta, và trên con đường đó, chúng ta có thể chứng ngộ trải nghiệm thức tỉnh thực sự và thành tựu Phật quả. Đây là con đường mà ngài Thân Loan đã trải nghiệm và khai thị cho chúng ta. Giáo pháp Tịnh độ của đức Phật A Di Đà là một hình thức Phật giáo dành cho "những người tội lỗi", những người bình dân sống ở tầng lớp thấp nhất của xã hội, những người có ít khả năng thực hiện các thiện hạnh mà thay vào đó lại tạo ra đủ loại nghiệp xấu. Giáo pháp Tịnh độ này được bộc lộ một cách sống động nhất qua lời khẳng định của ngài Thân Loan rằng: thật ra chính những người xấu mới đạt được Phật quả.
Tịnh độ Chân tông khai thị một con đường thực hành mà ở đó, người ta có thể kinh nghiệm thực sự được tín tâm hay sự chứng ngộ, và thành tựu Phật quả thông qua lối "Niệm Phật trong đời sống hằng ngày" này.
-Niệm Phật Của “Sự Lựa Chọn”
- Chỉ CóNiệm Phật Là Chân Thật Và Thực Sự
Chúng ta hãy xem xét sâu hơn một chút về nội dung của sự thực hành “niệm Phật trong đời sống hàng ngày” của Tịnh độ Chân tông, tức là việc niệm danh hiệu Phật như là “lẽ sống”, đúng như những gì ngài Thân Loan đã truyền dạy cho chúng ta.
Hơn bất cứ điều gì khác, niệm Phật trong đời sống hàng ngày phải là một "niệm Phật của sự lựa chọn". Giống như ngài Thân Loan trước đây, chúng ta phải lựa chọn niệm Phật là sự thực hành cho đời sống của mình, bằng cách đặt cược tính chủ thể của chính mình vào đó. Đây chính là tinh túy của niệm Phật đã được ngài Pháp Nhiên khởi xướng và được ngài Thân Loan truyền thừa. Chẳng hạn, ở cuối tác phẩm Thán Dị Sao (Tannisho) có những lời nổi tiếng sau đây:
Nhưng với một kẻ phàm phu đầy rẫy nhữngphiền não mê lầm, trong thế giới phù du – căn nhà lửa này – mọi việc không ngoại lệ đều là hư huyễn và giả tạm, hoàn toàn thiếu vắng chân thật và sự thành tâm. Chỉ có Niệm Phật là chân thật và thực sự.
Ở đây, cụm từ "chỉ có niệm Phật" có nghĩa là chúng ta chỉ lựa chọn một điều duy nhất: niệm Phật. Chúng ta niệm Phật giữa mọi hoàn cảnh của đời sống thường ngày. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là khi niệm Phật, chúng ta "lựa chọn chấp nhận" nó là điều duy nhất chân thật và thực sự, và chúng ta "lựa chọn từ bỏ" mọi thứ khác vì coi chúng là hư huyễn, giả tạm, đầy rẫy những dối trá và lừa gạt.
Trong đời sống thông thường, chúng ta luôn nghĩ rằngcha mẹ hay con cái, hay người chồng hoặc vợ mình, là những báu vật quan trọng nhất. Hoặc chúng ta cảm thấy rằng tiền tài, danh vọng và địa vị xã hội là những giá trị quan trọng nhất mà mình có. Vì vậy, chúng ta bận rộn suốt cả cuộcđời, cố gắng hết sức để đạt được hoặc bảo vệ những giá trị đó.Tuy nhiên, liệu đây có thực sự là những điều quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta? Chẳng phải sự thật là tất cả những báu vật và nhữnggiá trị này cuối cùng đều sẽ phai nhạt và sụp đổ hay sao? Chúng ta sẽ nhận ra rằng không một điều nào trong số đó là chân thật và thực sự. Mỗi một điều trong số đó thực chất là “hư huyễn và giả tạm”.
Chúng ta sẽ hiểu sâu sắc đến mức nào về chân lý này? Và đến mức độ nào chúng ta có thể "phi tuyệt đối hóa" những giá trị thế gian mà chúng ta đang khao khát tìm kiếm? Liệu chúng ta có thể chọn từ bỏ chúng không? Chỉ khi chúng ta lựachọn từ bỏmọi giá trị thế gian – nếu chúng ta nhận ra rằng giá trị của chúng chỉ mang tính tương đối và chúng thiếu vắng sự chân thật tuyệt đối – thì chúng ta mới có thể lựachọn để hiểu rằng “chỉ có niệm Phật là chân thật và thực sự”.
Tiếng niệm Phật mà ngài Thân Loan dạy chúng ta là tiếng niệm Phật mà chúng ta niệm lên trong đời sống hàng ngày, khi chúng ta nhận ra một cách nhạy bén và sâu sắc rằng không có nhữnggiá trị thế gian nào là rốt ráo hay chân thật. Hay nói ngược lại, khi chúng ta niệm Phật, chúng ta dần nhận ra rằng mọi giá trị thế gian đều là giả dối. Và dựa trên sự nhận thức đó, chúng ta thấu hiểu hơn nữa rằng chỉ có niệm Phật là chân thật. Đây chính là ý nghĩa của việc “sống” trongtiếng niệm Phật. Do đó, niệm Phật như ngài Thân Loan dạy chính là “niệm Phật của sự lựa chọn”
- Niệm Phật Như Là "Lẽ Sống"
Bất cứ khi nào có những sinh viên tốt nghiệp nhờ tôi viết vài lời chia tay, tôi thường có thói quen viết những dòng sau: "Hãy biết rằng mọi sự kiện trên thế gian này – dù chúng là gì, dù chúng xảy ra khi nào – đều là những duyên lành trợ giúp cho tiếng niệm Phật." Những lời này giống như phương châm sống của riêng tôi. Tôi luôn viết chúng, không hẳn vì tôi đã hoàn toàn sống được như vậy, mà theo một nghĩa nào đó, chúng là những lời tự nhắc nhở bản thân.Những lời này thúc giục tôi niệm Phật vì biết rằng, dù sự việc có đau buồn đến đâu hay tôi có thể trở nên giận dữ thế nào trước một biến cố, thì mọi chuyện xảy đến trong đời đều đang vận hành "hướng về" phía tôi để tôi không quên tiếng niệm Phật, hoặc để tôi sẽ niệm Phật thật nhiều lần, hay thậm chí chỉ một lần duy nhất. Chính vì thế, tôi sẽ luôn có thể vượt qua mọi nỗi buồn hay khổ đau, và một con đường mới sẽ mở ra trong cuộc đời mình. Theo cách hiểu của tôi, con đường này chính là "Niệm Phật trong đời sống hàng ngày" – Niệm Phật như là "lẽ sống" mà Ngài Thân Loan đã truyền dạy cho chúng ta.
Khi tôi chia sẻ những điều này với các đạo hữu tại chùa, tôi thường diễn đạt theo cách này: Niệm Phật là khobáu duy nhất mà chúng ta có thể mang theo bên mình khi chúng ta qua đời. Cho dù chúngta có bao nhiêu danh vọng, địa vị, tiền tài, hay thậm chí là tình yêu trong cuộc đời này đi chăng nữa, chúngta cũng chẳng thể mang theo bất cứ thứ gì khi chúng ta chết. Chúng ta phải để lại tất cả sau lưng.Bất kể chúngta có là một người cha, người mẹ hay người bạn đời yêu thương đến thế nào, thì vì chúng ta đã đến với thế gian này một mình, nênchúng ta cũng sẽ ra đi một mình. Mỗi người trong chúng ta đều phải đối diện với cái chết của mình. Thế nhưng, khi mỗi người ra đi trong đơn độc, chẳng mang theo được gì khác, vẫn sẽ có một khobáu duy nhất mà chắc chắn chúng ta sẽ có: đó là tiếng niệm Phật. Chúng ta sẽ luôn có tiếng niệm Phật. Chúng ta luôn có thể niệm Phật, ngay cả trong hơi thở cuối cùng. Đây là điều mà tôi vẫn luôn nói với mọi người.
Nhiều năm về trước, tôi có đến thăm một đạo hữu cao tuổi tại ngôi chùa ởquê nhà, ông đang hấp hối vì căn bệnh ung thư thanh quản. Ông đã thường xuyên lui tới chùa trong một thời gian rất dài, vì vậy, khi ngồi bên giường bệnh của ông, tôi cảm thấy mình có thể nói với ông rằng: "Cuối cùng, tất cả những gì còn lại chỉ là tiếng niệm Phật."
Ông cụđáp lại bằng một cái gật đầu sâu sắc, đầy thấu hiểu, và chỉ nói: "Cảm ơn thầy. Cảm ơn thầy." Ngày hôm sau, ông qua đời.
Một đạo hữu khác cũng đã qua đời khi tôi đang ở Kyoto nên tôi không thể đến gặp ông. Nhưng ông đã để lại một lá thư, ông nhờ người viết hộ và gửi cho tôi. Ông cũng nói cùng một điều: "Tôi không lo lắng gì cả, vì tôi đang ra đi cùng tiếng niệm Phật. Cảm ơn thầy."
Sống, trong khi vẫn luôn khiêm cung niệm danh hiệu Phật; rồi ra đi với khobáu là tiếng niệm Phật đó – đó chính là nền tảng sống và chết của một người tu hành niệm Phật theo Tịnh độ Chân tông. Tôi cảm thấy đầy hoan hỷkhi nghĩ về tất cả những người trong cuộc đời đã đi trước tôi, những người tu hành niệm Phật đã bước đi trên con đường này trước tôi.
- Thực Hành Niệm Phật Liên Tục Mỗi Ngày
Ngài Thân Loan đã nhấn mạnh một cách mạnh mẽ về sự duy trì củaviệc thực hành niệm Phật, thúc giục mọi người hãy niệm Phật liên tục mỗi ngày và mọi ngày. Ví dụ, ngài đã khẳng định với một cường độ lớn lao rằng:
Những ai hoàn toàn giao phó bản thân
Cho Bổn nguyện từ bi vĩ đại của Đức Phật A Di Đà
Đều nên niệm NamMôADiĐàPhật không ngừng
Bất kể họ đang thức hay đang ngủ.
Ngài Thân Loan đang thúc giục chúng ta niệm Phật trong mọi hoàn cảnh, dù thức hay ngủ, dù đang ở trong xe hơi hay trên giường, dù vui hay buồn, hoặc thậm chí khi chúng ta chẳng còn gì cả. Chúng ta nên xem bất kỳ sự kiện nào xảy ra trong đời sống của mình là một duyên lành hỗ trợ cho tiếng niệm Phật và hãy niệm Danh hiệu ngàivới tư tưởng đó trong tâm.Đó thực sự sẽ là“tiếng niệm Phật trong đời sống hàng ngày”, bởi vì tiếng niệm Phật trong thực tại sẽ trở thành chính đời sống hàng ngày đối với mỗi chúng ta. Con đường Tịnh độ Chân tông – con đường chân thật dẫn đến việc thành tựu Phật quả – có thể được tìm thấy trong tiếng gọi Danh hiệu Phật liên tục mỗi ngày và mọi ngày trong đời sống của chúng ta.
Khi tôi còn là một đứa trẻ, bất cứ khi nào có một buổi Pháp hội tại chùa, tất cả các Phật tử đều niệm Phật trong khi lắng nghe bài thuyết pháp của vị sư giáo thọ. Trong những lúc nghỉ giữa giờ, tất cả mọi người có mặt đều đồng thanh niệm Phật. Kết quả là, người ta có thể nghe thấy một nhịp điệu luân phiên giữa những lời giảng của vị sư và tiếng niệm Phật của các Phật tử. Tuy nhiên, ngày nay ở Nhật Bản, truyền thống đó đã dần biến mất và những âm thanh niệm Phật không còn được nghe thấy nữa. Với tư cách cá nhân, tôi mong muốn có thể được nghe lại những âm thanh niệm Phật ấy một lần nữa!
Những âm thanh ấy cũng đã từng được nghe thấy ở Hoa Kỳ. Khoảng hai mươi năm trước, tôi có cơ hội đến thăm Đại học Washington ở Seattle. Vào thời điểm đó ở Seattle có một hiệp hội những người đến từ tỉnh Hiroshima ở Nhật Bản, và vì tôi cũng đến từ Hiroshima, họ đã tổ chức một bữa tiệc chào mừng tôi. Điều đó dẫn đến việc tôi được mời phát biểu tại buổi lễ cầu nguyện Chủ nhật tại Chùa Phật giáo Seattle.
Trong khi tôi đang diễn thuyết, một chuyện xảy ra đã khiến tôi vô cùng kinh ngạc: Khi tôi đang nói, toàn bộ hội trường bắt đầu đồng thanh niệm Phật. Có khoảng ba trăm người tại buổi lễ đó và tất cả họ đều đồng thanh niệm Phật để hồi đáp lại bài nói chuyện của tôi. Tôi đã vô cùng xúc động trước trải nghiệm này. Sau đó, một Phật tử đã nói với tôi rằng họ đã được cha mẹ dạy làm như thế. Họ được dạy rằng khi đến chùa nghe Pháp thoại, họ phải vừa lắng nghe vừa niệm Phật. Tôi cảm thấy vô cùng hoan hỷ khi biết rằng, mặc dù các Phật tử của chùa đã là thế hệ người Mỹ gốc Nhật thứ ba và thứ tư, và tiếng Nhật đang dần bị lãng quên, nhưng tiếng niệm Phật chắc chắn vẫn còn sống động theo cách này.
Chuyện đó đã xảy ra cách đây hai mươi năm. Tôi thường tự hỏi tiếng niệm Phật đó giờ đây đã ra sao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chúng ta cũng có thể nhận thức được những người đi trước, những người đã sống cuộc đời của họ trong tiếng niệm Phật. Đó chính là ý nghĩa của việc sống trongtiếng niệm Phật một cách liên tục.
-Niệm Phật Và Tín Tâm
- Lịch sử Niệm Phật
Tại sao chúng ta lại có thể gặp gỡ Đức Phật khi niệm Phật? Làm thế nào mà trải nghiệm thức tỉnh – tức là Tín tâm chân thật và thực sự– lại nảy sinh thông qua việc trì niệm danh hiệu Phật? Những câu hỏi này trở nên cực kỳ quan trọng, đặc biệt là khi chúng ta bàn luận về việc truyền đạt và lắng nghe giáo pháp.
Trước hết, những người đã niệm Phật mỗi ngày và đạt được trải nghiệm thức tỉnh đã (và đang) bước đi trên con đường này trước chúng ta. Một "lịch sử niệm Phật" hiện diện trong chính những dấu chân của những người thực hành Niệm Phật đó. Đây là một sự thật không thể bàn cãi. Tôi đã từng biết nhiều những người thực hành như vậy tại Mỹ. Và tất nhiên, ngay cả ở Nhật Bản, dòng lịch sử này vẫn tiếp nối không ngừng nghỉ cho đến tận ngày hôm nay.
Niệm Phật có một lịch sử của riêng nó. Khi chúng ta tìm hiểu về pháp môn niệm Phật của Tịnh độ Chân tông, điều vô cùng quan trọng là đầu tiên chúng ta phải tiếp xúc được với lịch sử Niệm Phật này. Một cách cụ thể, lịch sử này mang đậm tính nhân văn. Nó gắn liền với đời sốngcủa con người: đó là một người đã đạt được trải nghiệm thức tỉnh nhờ niệm Phật, hoặc một người vừa niệm Phật vừa bước đi trước chúng ta hướng về cõi Tịnh độ. Tất nhiên, nó cũng có thể bao gồm những câu chuyện cuộc đời hoặc những lời nhắn nhủ của những người đã khuất.
Dù trong trường hợp nào, điều quan trọng là chúng ta phải gặp gỡ lịch sử này thông qua thực tế sinh động của một nhân cách con người thật sự.
Vào thời kỳ Minh Trị (Meiji), có một vị tăng sĩ thuộc tông phái Tịnh độ Chân tông tên là Shichiri Gōjun (1835-1900). Đây là một trong những lời dạy của ông:
“Việc đi lang thang không mục đích trên những đường ray sẽ không giúp chúng ta lên được tàu. Nếu muốn đến được đích, chúng ta nên đi đến nhà ga. Tại đó, chúng ta nên mua vé và bước lên tàu.”
Điều này có nghĩa là: dù chúng ta có học hỏi bao nhiêu về lý thuyết và giáo lý Phật giáo đi chăng nữa thì cũng không quan trọng. Nếu chúng ta không gặp được một nhân cách con người thật sự, thì tất cả cũng chỉ là con số không. Shichiri ví nhân cách con người này như một nhà ga. Chỉ bằng cách đi đến nhà ga – tức là thông qua việc gặp gỡ với một nhân cách con người thật sự và tiếp xúc với một lịch sử niệm Phật– cuối cùng chúng ta mới có thể đạt tới đích đến của mình.
Tôi nghĩ rằng đây là một ví dụ thực sự tuyệt vời về lịch sử của truyền thống niệm Phật.
- Tâm Lý Học Của Niệm Phật
Tiếp theo, hãy cùng xem xét lý do tại sao chúng ta có thể chứng ngộ được trải nghiệm thức tỉnh khi niệm Phật, tức là khi chúngta niệmDanh hiệu Phật. Câu trả lời nằm ngay trong cấu trúc của chínhhành động niệm Phật.
Khi chúng ta tha thiết niệm Danh hiệu Phật với mộttrái tim trọn vẹn trong lúc lắng nghe Chánh pháp, cuộc đời chúngta sẽ dần hướng về phía Đức Phật. Tuy nhiên, khi sự trì niệm sâu sắc hơn, cuối cùng sẽ có một sự đảo ngược trong hướng đi của tiếng niệm Phật đó. Khi niệm Phật, chúng ta đang hướng mình về phía Đức Phật qua việc niệm Danh hiệu và tưởng nhớ Ngài. Thế nhưng, đồng thời, chúng ta cũng thức tỉnh trước một chuyển động theo hướng ngược lại. Đó là khi chúngta nghe thấy tiếng gọi của Đức Phật đang hướng về phía chúng ta, như thể Ngài đang tự gọi tên và kêu gọi chúng ta. Tại đây, một trải nghiệm tâm linh siêu việt diễn ra, điều mà chúng ta thức tỉnhở tầng sâu sắc nhất trong ý thức mình.
Trải nghiệm này diễn ra như một kết quả tất yếu của hoạt động tâm lý và tôn giáo của chúng ta với tư cách là con người. Đối với ngài Thân Loan, nó còn nảy sinh như một hệ quả tất yếu từ Bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà. Nói cách khác, cấu trúc nền tảng của trải nghiệm thức tỉnh nhất thiết phải đồng nhất với cấu trúc của việc niệm Phật. Như tôi đã đề cập trước đó, đây chính là cách ngàiThân Loan giải thích cấu trúc logic của việc niệm Phật: hành động niệm Phật của chúng ta là hành động của chính mình, bao gồm cả tâm nguyện ước và sựthực hành (nguyện – hạnh). Nghĩa là, chúng ta niệm "Nam mô" và quy y vào "Đức Phật A Di Đà". (Chúng ta có thể dịch "Nam Mô A Di Đà Phật" là "Con trở về với đời sống của Đức Phật").Tuy nhiên, ngàiThân Loan cũng hiểu rằng thực hành niệm Phật chính là tiếng gọi của Đức Phật, bao gồm cả tâm nguyện ướcvà sựthực hành, theo nghĩa rằng "Đức Phật A Di Đà" thực hiện hành động "Nam mô" và quy y vào chính chúng ta. (Chúng ta cũng có thể dịch "Nam Mô A Di Đà Phật" là "Mệnh lệnh của Đức Phật đang gọi tôi trở về với Ngài"). Đây chính là ý nghĩa của việc niệm Phật.
Xét từ góc độ của chúng ta, tức là từ quan điểm tâm lý học củaniệm Phật, việc thực hành niệm Phật cho phép chúng ta "phi tuyệt đối hóa” và từ chối vô điều kiện mọi quan điểm thế gian. Mỗi chúng ta đều bận rộn với việc lập gia đình, nuôi dạy con cái, hay tìm kiếm danh vọng và tiền tài. Thế nhưng, khi đời sống của chúng ta dành trọn cho việc học Phật pháp và niệm Phật, tất cả những điều này chẳng bao lâu sau sẽ bắt đầu phai nhạt dần. Cuối cùng, mọi thứ rồi sẽ rời khỏi tầm tay chúng ta. Khi chúng ta chết, chẳng thể mang theo bất cứ điều gì; chúngta phải để lại tất cả phía sau. Từ đó, chúng ta đi đến một sự chứng ngộ ngày càng sâu sắc rằng tất cả những điều như vậy đều là trống rỗng và giả dối.
Khi trạng thái hiện tại của chúng ta được nhìn nhận theo cách này và dần dần được “phituyệt đối hóa” và buông bỏ, thì bản ngã của chúng ta sẽ trở nên trống rỗng. Chính khi đó, một cách tất yếu, một điều gì đó sẽ được nghe thấy. Thông thường, chúng ta luôn cố gắng nhồi nhét bản thân đầy ắp mọi thứ, liên tục lấp đầy mình bằng sự chấp ngã và cái tôi, do đó chúng ta không thể nhìn hay nghe bất cứ điều gì một cách chân thực.Tuy nhiên, khi cái tôi dần trở nên rỗng rang, đôimắt củatâm trísẽ mở ravà cuối cùng chúng ta sẽ có thể nhìn thấy mọi thứ. Đôi tai của tâm trí sẽ trở nên trong sáng và lần đầu tiên chúng ta có thể nghe thấy mọi sự. Và chúng ta cũng có thể nghe thấy cả những âm thanh khổ sở vàđau đớn trong tâmcủa người khác.
Chỉ khi chúng ta nhận biết một cách sắc bén và trọn vẹn rằng trạng thái hiện tại của mình là giả tạm, khi đó chúng ta mới có thể nghe thấy những điều mà trước đây mình vốn không thể nghe. Chúng ta sẽ có thể nhìn thấy những gì mà bấy lâu nay mình không thể thấy. Chính trong cấu trúc này, cuối cùng, chúng ta có thể nghe thấy tiếng gọi của Đức Phật bên trong câu niệm Phật. Đây chính là cách niệm Phật trong Tịnh độ Chân tông.
Một cấu trúc tương tự như vậy cũng có thể được tìm thấy trong sự thức tỉnh hay giác ngộ qua lời dạy của Đức Phật Thích Ca. Ở đó, giác ngộ được gọi là "giải thoát". Giải thoát có nghĩa là "loại bỏ" hay "cởi bỏ". Nghĩa là, người ta loại bỏ hay cởi bỏ lớp da cũ của chính mình. Bản ngã bị dập tắt và dần trở nên trống rỗng. Hơn nữa, giáo lý Phật giáo gọi việc chứng đắc giác ngộ là "thành Phật". Đạt được Phật quả là một sự "trở thành". Người ta nhận ra sự trưởng thành và trở thành một tự thân mới. Trong Phật giáo, sự thức tỉnh hay giác ngộ có cấu trúc đôi như vậy: "cởi bỏ" và "trở thành".
Sự thức tỉnh thông qua việc niệm Phật cũng có một cấu trúc hoàn toàn tương tự. Khi bản ngã cũ của chúng ta trở nên trống rỗng, tự thân mới sẽ được trưởng thành một cách trọn vẹn. Khi bản ngã chúng ta trở nên rỗng rang, một điều gì đó mới mẻ sẽ được nghe thấy hoặc nhìn thấy. Cuối cùng, tiếng gọi của Đức Phật đang hướng về chúng ta sẽ được nghe thấy, hay được cảm nhận, nơi đôi tai của tâm trí chúng ta. Ngài Thân Loan đã nói về "cấu trúc đảo ngược" này khi ngài tuyên bố rằng niệm Danh hiệu chính là nghe Danh hiệu, và nghe Danh hiệu chính là niệm Danh hiệu.
Dưới đây là một ví dụ minh họa. Khi còn là những đứa trẻ, chúng ta thường háo hức gọi tên cha mẹ mình bằng tiếng "Mẹ ơi!" hay "Cha ơi!". Chúng ta gọi "Mẹ ơi!" hướng về mẹ của mình và họ sẽ đáp lại "Mẹ đây!" với chúng ta. Tuy nhiên, nếu thực sự ngẫm nghĩ về điều này, chính vì đã nhận được tình yêu thương của nhữngngười mẹ nên chúng ta mới gọi tiếng mẹ ơi. Nếu không nhận được tình yêu thương của những người mẹ, chúng ta sẽ không bao giờ làm như vậy. Khi còn là những đứa trẻ sơ sinh, chúng ta đã gọi tên cha mẹ mình biết bao nhiêu lần? Chính vì chúng ta tiếp tục gọi họ một cách không ngừng nghỉ, nên giờ đây, chúng ta nhận thức được rằng tình yêu thương của cha mẹ vốn đã ở đó từ trước khi chúng ta gọi tên họ. Chúng ta biết rằng, trên thực tế, chúng ta đang được gọi bởi cha mẹ mình. Chúng ta nhận ra rằng việc mình gọi tên cha mẹ chính là tiếng vọng từ tiếng gọi của cha mẹ hướng về phía chúng ta.
Khi chúng ta tiếp tục thực hành niệm Phật như là “lẽsống” ngay trong đời sống hằng ngày – niệm Phật trong khi tiếp tục hướng cuộcđời của chúng ta về phía Đức Phật và luôn nhớ nghĩ về Ngài – thì một cách tất yếu, trải nghiệm tôn giáo về sự đảo ngược này cuối cùng sẽ diễn ra. Một trải nghiệm thức tỉnh (“A! Thì ra là thế! Đúng là như vậy!”) sẽ xuất hiện.
Thức tỉnh có nghĩa là chúng ta kinh nghiệm một sự hồi tưởng sâu sắc trong tâm và chứng ngộ được sự thật của một điều gì đó đã bị lãng quên từ lâu (trong tiếng Nhật gọi là omoiataru - hồi tưởng sâu xa) và chúng ta thấu hiểu điều gìđó sâu sắc đến mức hoàn toàn bị thuyết phục về thực tại của nó mà không còn chút nghi ngờ nào (fu ni ochiru - thấu tận đáy lòng). Như tôi đã đề cập trước đó, khi một đứa trẻ tha thiết gọi “Mẹ ơi!” với mẹ mình, thì ở một tầng sâu hơn, chính người mẹ đang gọi con mình. Tâm của người mẹ vang vọng, hay dội lại, bên trong tâm của đứa trẻ, và vì thế đứa trẻ mới gọi "Mẹ ơi!". Hoạt động này diễn ra từ cả hai phía. Tiếng đứa trẻ gọi "Mẹ ơi!" hướng về cha mẹ giao thoa với tình yêu thương của cha mẹ dành cho đứa trẻ.
Khi chúng ta tiếp tục niệm Danh hiệu Phật (“NamMô A Di Đà Phật! NamMô A Di Đà Phật!”), bản ngã của chúng ta trở nên rỗng rang và chúng ta kinh nghiệm sâu sắc sự thật của một điều gì đó đã bị lãng quên từ lâu – rằng việc chúng ta niệm Danh hiệu để gọi Phật, nhưngtự thân điều đó chính là tiếng gọi của Đức Phật đang hướng về chúng ta. Khi nhữngđiều này xảy ra, nó được gọi là trải nghiệm thức tỉnh. Đây chính là Tín tâm, điều được chứng ngộthông qua việc niệm Phật. Nó đại diện cho trải nghiệm tôn giáo tối thượng trong Tịnh độ Chân tông.
NgàiThân Loan đã nói rằng hành động niệm Phật, qua đó chúng ta gọi Danh hiệu Phật, một cách tất yếu sẽ đảo ngược hướng đi của nó và trở thành hành động nghe Danh hiệu, nơi Đức Phật đang gọi chúng ta. Khi chúng ta niệm Danh hiệu, điều quan trọng là chúng ta phải trải nghiệm một cách sâu sắc sự thật rằng đó chính là tiếng gọi của Đức Phật đang hướng về mình. NgàiThân Loan nói thêm rằng, thực sự nghe Danh hiệu chính là chứng ngộ Tín tâm. Do đó, ông khẳng định rằng niệm Danh hiệu một cách chân thật và Tín tâm chân thật là một.
Tuy nhiên, nói một cách chính xác, NgàiThân Loan cũng nói rằng mặc dù Tín tâm đồng nhất với việc niệm Phật, nhưng có những trường hợp việc niệm Phật không nhất thiết phải đồng nhất với Tín tâm. Nghĩa là, một câu niệm Phật một chiều, nơi chúng ta niệm Phật hướng về Đức Phật nhưng lại không nghe câu niệm Phật ấy như tiếng gọi của Đức Phật từ hướng ngược lại vọng về phía chúng ta – thì không phải là câu niệm Phật chân thật. Một câu niệm Phật như vậy sẽ không đồng nhất với Tín tâm. Ngược lại, việc niệm Phật một cách chân thật nhất thiết phải bao gồm một trải nghiệm tôn giáo thực sự–một trải nghiệm sâu sắc về sự thật của điều gì đó đã bị lãng quên từ lâu – nơi mà những gì vừa trì tụng được nghe thấy từ hướng ngược lại truyền đến.
Trải nghiệm tôn giáo tối thượng này chính là điều mà NgàiThân Loan gọi là Tín tâm. Từ đó, Ngài dạy chúng ta hãy chứng ngộ trải nghiệm thức tỉnh này, trải nghiệm tôn giáo của Tín tâm này, ngay khi chúng ta niệm Phật. Theo nghĩa đó, niệm Phật một cách chân thậtlàtự thân nó đã biểu thị cho việc nghe Danh hiệu và Tín tâm. Vì vậy, trong tư tưởng của NgàiThân Loan, mối liên hệ giữa niệm Phật, nghe Danh hiệu và chứng ngộ Tín tâm thực chất là một mối liên hệ đồng nhất.
- Niệm Phật Và Tín Tâm
Mối liên hệ giữa niệm Phật và Tín tâm còn có một khía cạnh khác, đó là: đời sống niệm Phật có thể được xem như một tiến trình dẫn dắt chúng ta đi trên con đường hướng tới sự chứng ngộ Tín tâm vốn là trải nghiệm tôn giáo tối thượng. Tuy nhiên, đồng thời, khi sự thực hành niệm Phật này trở thành niệm Phật chân thật, thì cũng có thể nói rằng không thể có Tín tâm nếu tách rời với câu niệm Phật. Theo nghĩa đó, sựniệm Phật chân thật không bao giờ tách rời khỏi mục tiêu tối thượng. Khi chúng ta tha thiết niệm Phật, trong một tiến trình mà sự niệm Phật trở thành chính đời sống của chúng ta, chúng ta sẽ chứng ngộ được Tín tâm và gặp gỡ Đức Phật. Thế nhưng, đồng thời, Tín tâm, hay sự gặp gỡ Đức Phật của chúng ta, không thể hiện diện táchrời khỏi câu niệm Phật mà chúng ta trì tụng mỗi ngày trong đời sống. Vì vậy, niệm Phật không chỉ đơn thuần là một tiến trình hay một phương tiện thiện xảo. Niệm Phật chân thật, tự thân nó, chính là Tín tâm. Tín tâm cũng đồng thời hiện diện cùng câu niệm Phật ấy. Do đó, NgàiThân Loan đã khẳng định:
Không có Tín tâm nào tách rời khỏi niệm Phật; đây là giáo pháp mà tôi đã được nhận. Bạnnên biết thêmrằng không thể có câu niệm Phật nào tách rời khỏi Tín tâm.
Niệm Phật đồng nhất với Tín tâm; Tín tâm đồng nhất với niệm Phật. Niệm Phật và Tín tâm là không thể tách rời và không nhị nguyên. Vì trong tư tưởng của ngàiThân Loan, niệm Phật là một sựhành trì (hành), nên sự đồng nhất giữa niệm Phật và Tín tâm cũng có thể được mô tả là tính không nhị nguyên giữa Hành và Tín.
Trong tư tưởng Thiền tông, ngàiĐạo Nguyên (Dogen) cũng đưa ra một khẳng định tương tự khi ông phát biểu rằng "hành trì làtương đương với chứng ngộ " (tu chứng nhất như). Ở đây, “hành trì" chỉ việc ngồi thiền (tọa thiền - zazen), đại diện cho một tiến trình trên con đường dẫn đến Phật quả. "Chứng ngộ" là mục tiêu tối thượng của con đường đó. "Tương đương" chỉ tính nhất thể hoặc không phân biệt. Trong tư tưởng của ngàiĐạo Nguyên, tự thân việc ngồi thiền đã là chứng ngộ. Ngoài chứng ngộ ra thì không có ngồi thiền; và không có chứng ngộ nếu tách rời vớiviệc ngồi thiền. Ngồi thiền và chứng ngộ là bất nhị (không hai).
Con đường thực hành niệm Phật của ngàiThân Loancũng mang cùng một nền tảng logic như vậy. Xét theo một nghĩa nào đó, niệm Phật và Tín tâm là hai việc khác nhau. Tuy nhiên, trong sự thực hành niệm Phật chân thật, niệm Phật đồng nhất với Tín tâm, và Tín tâm đồng nhất với niệm Phật. Hành (hành trì) và Tín (tín tâm) là một và như nhau. Chúng là bất nhị. Chúng ta phải trở thành những người có khả năng niệm được câu niệm Phật như thế. Con đường tọa thiền của ngàiĐạo Nguyên là một hình thái Phật giáo dành cho người xuất gia, và việc thực hành đó đòi hỏi phải diễn ra tại một địa điểm cụ thể và trong một khoảng thời gian cố định, rời xa thế giới trần tục. Vì lý do đó, chỉ một số ít người có khả năng mới có thể thực hiện được. Tuy nhiên, con đường niệm Phật, mà ngài Thân Loan dạy chúng ta, có thể diễn ra giữa thế giới trần tục trong bất kỳ lối sống nào. Khi chúng ta sống bằng cách tha thiết niệm Phật như là “lẽ sống" và tập trung tâm trí vào Phật pháp ngay trong đờisống cư sĩ tại gia này, chúng ta sẽ có thể đạt đến cùng một cảnh giới thức tỉnh tối thượng đó.
Thiền sư D. T. Suzuki từng nóirằng trải nghiệm chứng ngộ tối thượng của một thiền sư, được thực chứng sau khi hoàn tất các pháp thực hành thâm sâu, và trải nghiệm sự thức tỉnh của những người có Tín tâm khiêm nhường (Diệu hảo nhân - myōkōnin) trong truyền thống Tịnh độ Chân tông –những người vừa niệm Phật vừa làm đủ mọi ngành nghề ngay giữa cuộc đời trần thế, là hoàn toàn như nhau.


