CON NGƯỜI XÃ HỘI - CON NGƯỜI TÂM LINH: TỪ THIẾU NIÊN ĐẾN TUỔI GIÀ
Nguyễn Thế Đăng
-------o0o-------

Cuộc sống của một con người, dù ở bất kỳ thời đại nào, là sự tiến hóa từ tầng thân thể –giác quan, đến tầng ý thức – tình cảm và lên đến tầng tâm linh, hay dùng những chữ khác là siêu thức, toàn thức, tánh giác, Phật tánh, Như Lai tạng, pháp thân..., có vô số từ để chỉ cái thực tại tối hậu và tối thượng như vậy.
Ba tầng, ba thành phần luôn luôn có mặt trong cuộc đời mỗi người, dù có thành phần còn trong trạng thái tiềm ẩn, tiềm năng. Thế nên, dù tiến hóa ở tuổi nào, luôn luôn có đủ ba thành phần.
Sau đây, chúng ta nói về sự tiến hóa ấy qua bốn giai đoạn của đời người.Đây chỉ là nói chung, nói tổng quát, bởi vì mỗi người còn tùy theo nghiệp, năng khiếu, những tính cách ưu và khuyết điểm của mình, mà có nhanh hay chậm. Có người ở giai đoạn hai đã tiến hóa hơn người ở giai đoạn bốn.
Bốn giai đoạn này có trong văn hóa Ấn Độ, từ thời cổ đại,ở Trung Hoa xưa là Xuân, Hạ, Thu, Đông, tương đương với bốn mùa. Và ngày nay, cả Đông lẫn Tây đều mặc nhiên chia đời người làm bốn giai đoạn: 1/ Từ sơ sinh đến trưởng thành (từ sanh ra đến khoảng 25 tuổi). 2/ Trưởng thành, làm việc ở đời, hôn nhân, gia đình, xã hội (từ 25 đến 55 tuổi). 3/ Hoàn tất giai đoạn trưởng thành, cả con người xã hội và con người tâm linh, chuẩn bị về hưu, nghỉ việc, xã hội và gia đình (từ khoảng 55 hay 60 tuổi đến 80 tuổi). 4/ Lên đến mức cao nhất của kiếp sống, có thể truyền thụ lại cho thế hệ sau những thành tựu, dù giới hạn, về Đời và Đạo, chuẩn bị thời gian cuối cùng để đi qua kiếp khác.
Đây chỉ là sơ đồ tổng quát, mỗi giai đoạn có thể ngắn hơn hoặc dài hơn những người khác, con người xã hội và con người tâm linh (của mình) tiến đến cấp độ nào còn tùy từng người, với ‘tài nguyên, tài sản’ của kiếp trước.
Nhưng nếu sống mà không có một sơ đồ, một bản đồ cho cuộc đời cá nhân, người ta sẽ mất thì giờ khi không biết giai đoạn này mình nên làm gì, và giai đoạn thích hợp nhất đã qua rồi. Ví dụ, 50 tuổi mà đi tập thể hình cho nở nang thêm, cao thêm thì không hợp. Chưa đến 10 tuổi mà muốn ngồi thiền nhiều để nhập định thì không thích hợp, có khi còn nguy hiểm.
1/ Mùa Xuân (từ bé thơ đến 25 tuổi)
Cho đến khoảng 10 tuổi, trẻ em đã biết sử dụng thân thể mình, phát triển sự nhận thức của các giác quan, biết bắt chước làm theo điều cha mẹ và trường tiểu học dạy.
Trẻ em bắt đầu thích những cảnh thiên nhiên hiền hòa, như mây, núi, bình minh, ve kêu, mùa hè, biển sông...
Đứa trẻ ấy bắt đầu có bạn, trong lớp, trong các trò chơi, khéo léo tay chân, ít suy nghĩ.
Cái tôi, bản ngã bắt đầu hình thành, tôi phải học giỏi, chơi trò chơi hơn bạn này bạn nọ. Trẻ em bắt đầu tự xác định mình, và cùng với sự tương tác với trường học, gia đình, xã hội, cái tôi bắt đầu tự khẳng định.
Từ 11 tuổi cho đến 18 tuổi: thời trung học. Thời kỳ này quan trọng, vì nó định hình nhân cách, thân thể phát triển, trí óc phát triển, tình cảm phát triển để thành một con người.
Trên 12 tuổi, có thể gọi là tuổi thiếu niên, người này đã bắt đầu biết suy nghĩ một cách trừu tượng.Phát triển mạnh về chỉ số thông minh (IQ) và chỉ số xúc cảm (EQ). Phát triển khả năng tập trung (Chỉ) và khả năng quan sát, tưởng tượng, liên tưởng (Quán).
Thân thể sẽ qua thời thiếu niên, qua tuổi dậy thì để bước vào tuổi thanh niên.
Phát triển những đức tính, như bây giờ các sách thường nói: chỉ số đam mê (PQ), chỉ số kham nhẫn, vượt khó (AQ), khả năng thẩm mỹ, thấu cảm, hướng thiện...
Về con người tâm linh luôn luôn có nơi mỗi người, dù chỉ ở dạng tiềm ẩn thì chàng thiếu niên, thanh niên phải được nghe, đọc... có một thực tại nào đó vượt khỏi đời sống vật chất, mà mỗi nền văn hóa có những tên khác nhau để gọi.
Chẳng hạn, thời Hy Lạp, môn vật lý có tên là la physique và siêu vật lý, siêu hình học có tên là la métaphysique.Từ đó, có những môn học khác như ontologie, bản thể học, hữu thể học... Trung Hoa thì có hình nhi thượng học và hình nhi hạ học.
Trong văn hóa Trung Hoa, Khổng Tử có câu nói về cuộc đời tâm linh song hành với cuộc đời xã hội của ông như sau:
“Ta mười lăm tuổi đã đặt tâm vào việc học (đạo). 30 tuổi thì có thể an lập vững vàng. Bốn mươituổi thì không còn nghi ngờ,50 tuổi thấu rõ chân lý của thế giới, trời đất (mệnh trời). Sáu mươi tuổi nghe gì tai cũng thuận.Bảy mươi tuổi thì tùy tâm muốn gì cũng không bao giờ trái với đạo”.
Tóm lại từ 12 tuổi, thiếu niên cần biết bao có một thực tạinào đó vượt khỏi đời sống vật chất mà ở đây gọi là tâm linh.Biết có là bất đầu tin. Qua sách, qua cha mẹ, thầy cô và qua sinh hoạt tâm linh trong đời sống xã hội.
Từ tin rằng có, thiếu niên dần dần tìm hiểu, và có thể thí nghiệm, bằng những pháp môn mà ai cũng có thể nếm thử trải: tập thể tụng kinh, trì chú, niệm Phật, hoặc người thiền, đơn giản là đếm hoặc theo dõi hơi thở, hoặc một mình ra giữa thiên nhiên...
Chàng thiếu niên, thanh niên ấy bắt đầu nhận ra, càng ngày càng rõ ràng, nơi mình luôn luôn có một nơi chốn bình an để có thể trú ẩn trong những ngày mưa to gió lớn, trong những ngày gió bão của cuộc đời mà ai cũng có trải qua không nhiều thì ít. Nhiều khủng hoảng xảy ra dù đối với một thanh niên thiếu nữ bình thường: khủng hoảng sinh lý của tuổi dậy thì, khủng hoảng trước những kỳ thi, khủng hoảng vì gia đình nghèo, cuộc sống sinh viên chật vật. Ngược lại cũng có khủng hoảng vì gia đình giàu, sanh ra ăn chơi chẳng biết lo cho ngày mai...
Dần dần chàng thanh niên nhận ra nơi mình luôn luôn có một chỗ bình an để vượt qua những khủng hoảng, những thách thức của cuộc đời.Nơi chốn bình an đó là nền tảng cho cuộc đời mình, là con người thật của mình bắt đầu lộ diện. Nơi chốn bình an ấy không phải để trốn chạy, để ẩn nấp vào đó. Nền tảng bình an luôn luôn có mặt ấy khiến chàng thanh niên có thể đi vào xã hội, vào thế giới, vào những thách thức làm người.
Tin vào nền tảng ấy và an trụ dù cạn cợt vào trong đó, chàng thanh niên có thể bước vào giai đoạn hai, mùa hè, của cuộc đời mình.
Tôn giáo là sự nối kết với cái Chính Mình cao siêu và thiêng liêng,thì đây là giai đoạn bắt đầu biết đến Nó, nối kết sơ bộ với Nó.
2/ Từ 25 tuổi, mùa hè
Từ tuổi này, con người có đủ niềm tin, với năng lực sống tràn đầy, để đưa cuộc đời mình vào một giai đoạn cao hơn, cuộc đời hoạt động trong xã hội.
Người ta hoạt động trong xã hội, mục đích là để hoàn thiện mình và giúp những người khác tự hoàn thiện họ, qua nghề nghiệp, qua hôn nhân, qua những tương quan xã hội. Như thế, xã hội là một môi trường để tiếp tục học tập, tiếp tục hoàn thiện chính mình.
Qua xã hội, người ta mới ứng dụng cái nền tảng, phần tâm linh vừa mới tiếp xúc để phần tâm linh này thấm sâu vào hiện hữu của mình. Nói cách khác, người ta mở tầng tâm linh ra với thế giới vật chất, với những con người chung quanh và với cả thiên nhiên, trái đất.
Sự nối kết với cái nền tảng, cái chính mình cao siêu không bị mất đi, trái lại càng thêm chặt chẽ vì đưa tầng tâm linh vào đời sống xã hội,vật chất là một thử thách lớn lao. Người ta phải thực hành hằng ngày, có thể tụng niệm, trì chú, lễ lạy, thiền định, hậu thiền định và theo lời chỉ dạy của các vị thầy. Và nếu đưa được, tầng tâm linh sẽ đóng trụ vững chắc vào cuộc đời trần thế của mình, để từ đây người ấy có thể tự nói với mình, tôi không chỉ là một con người xã hội với thân thể – các giác quan, với ý thức – tình cảm mà còn là, và quả thực là một con người tâm linh.
Chính con người tâm linh này nâng cấp, thăng hoa và giải phóng cho hai tầng dưới. Giải phóng không phải là không còn; nó vẫn còn đó, nhưng thoát khỏi những trói buộc, được đưa lên một hiện hữu cao hơn.
Giai đoạn sống trong xã hội này dựa vào thiền định, chủ yếu là buổi sáng, dựa vào hậu thiền định rất nhiều, suốt cả ngày. Và không chỉ có trí huệ mà còn có thương yêu. Một con người toàn diện luôn luôn có hai cái này đi chung.
Như vậy, trước khi đi vào xã hội, người ta đã học và biết đạo đức căn bản. Không phải đi vào đời để tăng thêm cái tôi và cái của tôi, không phải có nghề nghiệp để bị trói buộc vào lòng kiêu căng, không phải có cái này cái nọ để tăng thêm sự bám chấp – sự bám chấp là đầu mối của khổ đau. Những thứ này là những che chướng thực tại, và nếu lỡ dính vào, rất khó gỡ, khó buông bỏ khi ở giai đoạn thứ ba.
Người ta đi vào xã hội để thực hiện công việc cao cả nhất của đời người, phục vụ những người thân và xa hơn, phục vụ xã hội. Đây là niềm vui sống và làm việc.
Đi vào đời sống xã hội, gia đình không phải là sẽ đắm chìm trong đó, quên mất cái Chính Mình, mà là để có kinh nghiệm về thế giới vật lý, thế giới con người dần tự hoàn thiện và giúp người khác hoàn thiện cuộc đời họ.
Tóm lại, đi vào đời sống xã hội để hoàn thiện chính con người tâm linh, vì con người tâm linh biểu lộ nơi và qua con người xã hội.
Người ta tiến đến việc hài hòa và hợp nhất con người tâm linh (Đạo) và con người xã hội (Đời).
Và cũng có những người không trải qua đời sống xã hội, đi thẳng và sốngtrọn vẹn chocon người tâm linh. Nhưng chúng ta thấy những vị ấy cũng phải hiểu biết về đời sống xã hội, như một vị giáo chủ thì phải có các đệ tử, cách thuyết pháp ứng hợp với hoàn cảnh, thời đại, nghĩa là phải khế cơ, sau khi đã khế lý.
3/ Từ 55 tuổi, mùa thu
Giai đoạn này tương đương với tuổi nghỉ hưuhiện nay. Đây là mùa trái cây chín, mùa gặt hái. Người ta đã đi đến đỉnh cao của đời mình. Những kinh nghiệm về đời đã thu hoạch đủ, người ta có thể truyền đạt lại cho những thế hệ sau: kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp, chia sẻ về lý tưởng, về những yếu tố nào đưa đến thành công, những khuyết điểm nào sẽ dẫn đến thất bại, sống thế nào để được hạnh phúc, ý nghĩa và lợi lạc của cống hiến... Tóm lại, người ta đã hiểu phần nào nghệ thuật sống ở đời, và có thể chia sẻ, góp ý, khuyên nhủ cho thế hệ sau.Đây không phải là một việc làm khoa trương phù phiếm, mà là một bổn phận, trách nhiệm làm người.
Ở giai đoạn này, con người xã hội (Đời) và con người tâm linh (Đạo) đã hòa quyện mạnh mẽ, có thể nói là hợp nhất: làm việc đời cũng chính là làm việc đạo, làm việc đạo cũng là làm việc đời.
Về tâm linh, sau vài chục năm nghe, đọc, nghiên cứu (Văn), tư duy sâu sắc (Tư) và thiền định thiền quán (Tu), người ta có kiến thức, thậm chí là các kinh nghiệm tâm linh. Người ta có thể truyền đạt các thông tin căn bản về đời sống tâm linh: nói về tin nhân quả, nghiệp báo, giới thiệu đại ý các kinh, các tông phái, các sách cần đọc, các vị thầy, quảng cáo cho đời sống tâm linh...
Nếu có nhân duyên, người ta có thể ở trong một chúng hội tâm linh, giúp đỡ, hỗ trợ các thầy và tông phái đó về mặt tổ chức, phát triển cơ sở, đi vào những lãnh vực học thuật mới để tìm cách nối kết môn học ấy với đời sống tâm linh. Tiến bộ nhiều hơn, người ta có thể phụ tá cho các vị thầy giảng giải những điều căn bản. Và cao hơn nữa, người ta có thể được phép (của các vị thầy, các tông phái) để làm một vị thầy dạy đạo.
Các chúng hội tâm linh là một xã hội tâm linh, có rất nhiều việc làm... Càng đi sâu vào đời sống tâm linh thì càng có trí huệ sáng suốt, và khi ấy, thấy mọi người đang còn mờ tối, không biết sống thế nào cho khỏi uổng đời, lòng bi tự nhiên nổi lên, phát sanh và là động lực cho hành động. Chính trí huệ và lòng từ bi làm nên một con người tâm linh, và đó cũng chính là ý nghĩa cuộc đời.
4/ Từ 75 tuổi, mùa đông
Nếu sống được đạo, đời sống tâm linh, thì đây là giai đoạn thành tựu của một đời người.Chúng ta thấy những người hoạt động tinh thần cao thì dù thể lực suy giảm, nhưng họ, những nhà khoa học, những nhà văn, những nghệ sĩ... Vẫn hoạt động cho tới ngày chết. Với người có đời sống tâm linh thì còn hơn thế, thậm chí còn trẻ trung hơn thời thanh niên, vì những buồn phiền, lo âu, thất vọng đã ra đi từ trước.Có thể nói họ đã chết từ trước cái chết thân thể, nên cái chết không còn đụng chạm đến họ.
Không còn hoạt động xã hội, nhưng họ hoạt động trong một xã hội tâm linh, với kinh nghiệm, năng lực của một đời người.
Và trong những năm, tháng cuối đời, họ chuẩn bị ra đi qua một đời khác, hoặc lên những thế giới cao hơn hoặc trở lại thế giới này để tiếp tục làm việc cho người khác.
Họ mãn nguyện vì đã làm những việc tốt nhất có thể làm, nên ra đi vì những đã làm xong bổn phận và nhiệm vụ của một đời người.
------o0o------

