PHẬT KHÔNG Ở ĐÂU KHÁC
Trích từ: AS IT IS của TULKU URGYEN RINPOCHE.
Nguyên Chân Việt Dũng chuyển Việt ngữ
--o0o--
Bậc hướng dẫn và đạo sư chính của chúng ta, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đã ban truyền một lượng giáo lý khổng lồ. Để viết lại tất cả những điều đó sẽ lấp đầy hàng ngàn tập kinh điển. Nhưng tất cả chúng chủ yếu quan tâm đến một điều: tâm này là như thế nào và nó hoạt động ra sao—nó thực sự là gì, và nó chỉ có vẻ như là gì. Mọi điều mà Đức Phật dạy đều liên quan đến chủ đề này. Nếu chúng ta muốn đi vào chi tiết lớn hơn, chúng ta có thể nói rằng Đức Phật đã ban 84.000 phần giáo pháp khác nhau để đối trị 84.000 cảm xúc phiền não khác nhau mà ngài quan sát thấy ở hữu tình chúng sinh. Tuy nhiên, chúng ta có thể cô đọng tất cả các giáo lý này vào một điểm duy nhất: những giáo lý về cách tâm có vẻ như là, và cách tâm thực sự là.
Bởi vì Giáo pháp thích ứng với căn cơ của tất cả các loại người khác nhau, bạn có thể nói rằng có chín thừa, chín cấp độ giáo lý. Mọi người thì khác nhau: một số có căn cơ sắc bén, một số có trí tuệ trung bình, và một số thì chậm lụt. Mỗi loại trong số này lại có thể được chia thành ba loại, để có tổng cộng chín loại, và do đó có chín cấp độ giáo lý, chín thừa. Đối với những người có căn cơ thấp nhất, chư Phật dạy các thừa dành cho Thanh văn, Độc giác Phật và Bồ tát. Đối với loại trung bình, chư Phật dạy ba mật điển bên ngoài: Kriya, Upa và Yoga. Đối với căn cơ cao nhất, chư Phật dạy Maha, Anu và Ati.
Có hai cách chính để tiếp cận Phật pháp: cách của một học giả hay con đường của một pandita, và con đường của ý nghĩa – con đường của một thiền giả đơn thuần. Con đường của học giả bao gồm sự thấu hiểu trọn vẹn những gì Đức Phật đã dạy, điều đòi hỏi một cái nhìn bao quát về toàn bộ các giáo lý. Các học giả cần những chi tiết của mọi thứ trong tất cả chín thừa, bắt đầu từ uẩn của sắc và tiếp tục cho đến tận trạng thái toàn tri hoàn toàn, trạng thái giác ngộ.
Một học giả cần đạt được sự thấu hiểu trọn vẹn về cách mọi thứ vận hành trong mối quan hệ với nhân và quả.
Ngược lại với điều này là con đường của một kusulu, một thiền giả đơn thuần. Đối với kiểu người này, điểm chính yếu trong giáo lý của Đức Phật không bao gồm điều gì hơn là việc thấu hiểu sự khác biệt giữa nhận biết và không nhận biết tinh túy tâm,. Không nhận biết là luân hồi (samsara), còn nhận biết là niết bàn hay giải thoát,. Chính từ quan điểm này mà chúng ta nói rằng tất cả các giáo lý của Đức Phật chỉ nói về tâm.
Vậy, tâm này thực sự là như thế nào? Trong tinh túy, nó là trống không, một trăm phần trăm là như vậy,. Không có nghi ngờ gì về điều này; nó là trống không và đã là như vậy từ nguyên thủy. Ví dụ thường được sử dụng ở đây là về không gian,. Không gian là trống không từ nguyên thủy; không có người làm ra hay đấng tạo hóa của không gian. Tâm như nó thực sự là thì trống không. Cách nó xuất hiện, hay có vẻ như là, là có một bản tánh rõ biết. Phẩm tính rõ biết này của tâm trống không là luôn luôn biết. Bất cứ điều gì diễn ra đều có thể được biết, cho dù đó là luân hồi—con đường—hay niết bàn,. Hai phương diện này được gọi là cái thực và cái có vẻ như (hoặc cái chân thực và cái biểu kiến). Cái thực là trống không. Cái ‘có vẻ như’ là có một ‘cái gì đó’ kinh nghiệm bất cứ điều gì đang là.
Tinh túy tâm bao gồm ba thân của chư Phật,. Bạn có thể nói rằng có vị Phật là tinh túy trống không, vị Phật là bản tánh rõ biết (tánh biết), và vị Phật là năng lực bao trùm khắp. Thay vì là ba loại Phật khác nhau, chúng là bất khả phân. Và sự bất khả phân này chính là tự tánh thân (svabhavikakaya), thân tinh túy. Bản tánh bất khả phân này hiện diện trong mỗi một chúng sinh như là sự tương tục của tâm người đó. Nếu chúng ta nhận biết bản tánh bất khả phân này là khuôn mặt tự nhiên xưa nay của mình, chúng ta không cần tìm kiếm một vị Phật ở nơi nào khác. Nếu rốt cuộc bạn lại tìm kiếm một vị Phật ở một nơi nào khác, thì chẳng có gì để tìm thấy cả! Đây là ý nghĩa của câu nói nổi tiếng, “Mặc dù tâm tôi là Phật, tôi lại không thấy nó.”
Phật tánh này hiện diện trong tất cả mọi người, giống như dầu tự nhiên có trong một hạt vừng. Hãy ép một hạt vừng và bạn nhất định sẽ có được một chút dầu. Tương tự như vậy, Phật tánh này hiện diện trong tất cả mọi người, từ Phật Phổ Hiền (Samantabhadra) cho đến con côn trùng bé nhỏ nhất. Chính nghiệp và những cảm xúc phiền não của chúng ta xác định cách chúng ta kết thúc trong những thân thể vật lý khác nhau, những sự tái sinh khác nhau.
Mức độ mà chúng ta có thể thấu hiểu điều này tạo ra một sự khác biệt đáng kinh ngạc. Một số người, chỉ bằng cách nghe một câu của giáo lý này, sẽ hiểu ngay lập tức. Những người khác không nắm được điểm cốt tủy, họ không thấu hiểu, bất kể có nói bao nhiêu đi nữa. Việc một người hiểu hay không phụ thuộc vào việc thân nào nâng đở và loại tâm sở nào mà Phật tánh này nối kết với.
Nhưng tự thân Phật tánh là như nhau trong tất cả mọi người, không có giảm hay tăng, thay đổi hay biến đổi giữa các cá nhân. Không phải là một người có một Phật tánh cao quý trong khi người khác có một Phật tánh thấp kém. Không phải là Phật Phổ Hiền có một Phật tánh thực sự tuyệt vời, trong khi một con chó hay một con lợn có một Phật tánh thấp kém, hay có lẽ không có chút nào. Thực sự không có bất kỳ sự khác biệt nào giữa những Phật tánh tinh túy của họ.
Nhiệm vụ của chúng ta là nhận biết và chứng ngộ Phật tánh của chính mình,. Tuy nhiên, nếu chúng ta ở trong một thân thể không có khả năng làm điều này, chúng ta không thể làm vậy. Ngay cả những loài động vật mạnh nhất, như voi và hổ, cũng không có cách nào để chứng ngộ bản tánh của chính chúng. Trong sáu loại chúng sinh trong luân hồi, chỉ có con người mới có thể nhận biết Phật tánh của họ; chỉ con người mới có khả năng hiểu được ý nghĩa của các giáo lý. Chúng ta có thể đang sống trong một thời kỳ đen tối, nhưng chúng ta vẫn có khả năng nhận biết bản tánh của chính mình.
Một lời tiên tri cổ xưa có nói: "Khi thời kỳ suy đồi lan tràn, các giáo lý Kim Cương thừa sẽ lan rộng như lửa cháy rừng". Khi ba độc đang bùng cháy trong tâm trí mọi người, thật dễ dàng hơn để thừa nhận phương pháp đối trị của chúng, đó là sự nhận biết Phật tánh.
Trong ba cõi—cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc—chính trong cõi dục mà ba độc hiện diện gay gắt nhất trong tâm chúng sinh. Trong cõi sắc và cõi vô sắc hầu như không có bất kỳ cảm xúc phiền não nào. Không có những cảm xúc phiền não, phương thuốc đối trị, sự nhận biết tinh túy tâm, không có sức mạnh thực sự.
Tôi chỉ nói với bạn điều này để cung cấp cho bạn câu chuyện căn bản. Điểm tôi đang cố gắng đưa ra ở đây là mọi thứ đều được bao gồm trong ‘cái dường như’ và ‘cái thực’. Đối với cái thực, hãy nhớ rằng tâm là trống không từ nguyên thủy. Nó là tánh giác bản nguyên: trống không trong tinh túy, rõ biết trong bản tánh, và phổ khắp trong năng lực. Tánh giác bản nguyên này không phải là một khoảng không trống trơn; nó là rõ biết. Nó có khả năng để biết.
Khi chúng ta nói về cái thực, cái nguyên thủy, thì đây chính là cái nó là. Tánh giác bản nguyên trống không trong tinh túy là pháp thân của tất cả chư Phật. Tánh giác bản nguyên rõ biết trong bản tánh là báo thân của tất cả chư Phật. Tánh giác bản nguyên cũng phổ khắp trong năng lực của nó. Năng lực bẩm sinh trong đó trống không và rõ biết là bất khả phân được gọi là hóa thân của tất cả chư Phật. Ba thân này tạo thành một thể bất khả phân duy nhất, tự tánh thân (svabhavikakaya), cái chính là tâm của chúng ta,.
Thực tại nền tảng nguyên thủy này hiện diện trong chính mình—đối lập với cái dường như—chính xác là những gì chúng ta gọi là Phật tánh.
Tâm cũng là ‘sự hợp nhất của kinh nghiệm và tánh Không’. Bạn có thể nói rằng ‘cái dường như’ và ‘cái thực’ cũng là một thể thống nhất, ở chỗ tâm là sự hợp nhất của kinh nghiệm và tánh Không. Chính xác điều này có thể diễn ra như thế nào được mô tả như sau: “Tinh túy tâm nội tại vốn sẵn là pháp thân; kinh nghiệm nội tại là ánh sáng của pháp thân”,. Nó giống như mặt trời và ánh sáng mặt trời, giống như cơ thể và chân tay, giống như bầu trời và những đám mây. ‘Cái dường như’ là sự biểu hiện của ‘cái thực’ theo cùng một cách như vậy.
Ngay bây giờ, chúng ta kinh nghiệm các nguyên tố đất, nước, lửa, gió và không gian như là ở bên ngoài bản thân chúng ta. Chúng xuất hiện đối với chúng ta thông qua năm giác quan, phải không? Sự dường như xuất hiện của cái đang kinh nghiệm chính là tâm. Nếu không có tâm, liệu có bất cứ điều gì xuất hiện không? Những hiện tướng này sẽ biểu lộ đối với cái gì?
Bởi vì tâm kinh nghiệm, bạn không thể phủ nhận rằng đây là hiện tướng. Nói rằng không có hiện tướng nào là một lời nói dối. Bạn không thể phủ nhận thực tại dường như là của các hiện tướng, bởi vì cái kinh nghiệm chính là tâm. Nhưng hãy nhớ rằng, tâm này là trống không.
Tất cả các hiện tướng đều là trống không, ở chỗ chúng đều có thể bị phá hủy hoặc bị tiêu mất theo một cách nào đó. Nước khô đi, bốc hơi, biến mất. Những vật thể dường như rắn chắc có thể bị lửa phá hủy, và chính ngọn lửa cuối cùng cũng tàn lụi, tiêu hủy. Toàn bộ vũ trụ biến mất vào một thời điểm nào đó, bị phá hủy bởi bảy ngọn lửa và một trận đại hồng thủy. Theo cách này, tất cả các hiện tướng rốt ráo đều là trống không.
Tâm cũng rốt ráo là trống không, nhưng cách nó trống không không giống như cách của các hiện tướng. Tâm có thể kinh nghiệm bất cứ điều gì, nhưng nó không thể bị phá hủy. Bản tánh nguyên thủy của nó là pháp thân của tất cả chư Phật. Bạn thực sự không thể làm bất cứ điều gì đối với tâm—bạn không thể thay đổi nó, rửa sạch nó, chôn vùi nó, hay đốt cháy nó.
Tuy nhiên, điều thực sự trống không là tất cả những hiện tướng xuất hiện đối với tâm.
Bởi vì tất cả những hiện tướng này rốt ráo là trống không và sẽ tan biến hoàn toàn, chúng ta thực sự không cần phải lo lắng về chúng hay phân tích chúng quá nhiều. Chúng thực sự chỉ là một sự phô diễn huyễn thuật, giống như khi ma quỷ gợi lên một vài phép thuật để đánh lừa bạn. Tất cả các hiện tướng là một sự phô diễn huyễn thuật, chỉ được kinh nghiệm bởi tâm. Thực tế, chúng ta có thể nói rằng việc kinh nghiệm các hiện tướng là sự phô diễn huyễn thuật của tâm.
Ba thân hiện diện từ nguyên thủy trong một khoảnh khắc. Chúng không phải là thứ gì đó có thể tạm thời được làm ra hay tạo tác bởi bất kỳ ai. Tánh giác tự hiện hữu là trạng thái chứng ngộ của tất cả chư Phật ngay từ ban đầu; nó là nguyên thủy. Tánh giác tự hiện hữu có trong tất cả chúng sinh; nó chỉ đơn giản cần được biết. Cơ hội để chúng ta làm như vậy đến khi nó được giới thiệu cho chúng ta bởi một bậc đạo sư đủ phẩm tính.
Sự tỉnh biết hiện diện nội tại của chúng ta không phải là thứ chúng ta sẽ tìm thấy trong tương lai, cũng không phải thứ chúng ta đã có trong quá khứ. Nó hiện diện ngay bây giờ. Và đó là điều mà chúng ta không cần phải chấp nhận hay chối bỏ. Đừng làm bất cứ điều gì với nó: đừng nắm lấy nó, đừng tránh né nó, đừng nuôi dưỡng bất kỳ hy vọng hay sợ hãi nào về nó, đừng cố gắng thay đổi hay biến đổi hoặc cải thiện nó theo bất kỳ cách nào. Điều đó hoàn toàn không cần thiết.
Nhận biết tánh giác tự hiện hữu không giống như việc nhìn vào tâm suy nghĩ tư lường - điều mà có nghĩa là chỉ đơn thuần nhận thấy những gì đang diễn ra trong tâm của người đó : “Bây giờ tôi đang hạnh phúc, bây giờ tôi đang buồn.” và sau khi nhận thấy, chúng ta lại bị cuốn vào bất cứ điều gì đang diễn ra trong suy nghĩ mê lầm của mình. Hữu tình chúng sinh lang thang trong luân hồi chính xác theo cách này, bằng cách chạy theo những tư tưởng của chính họ. Khi họ cảm thấy hạnh phúc, họ mải mê vào đó và cười đùa. Khi cảm thấy buồn, họ ngồi và khóc.
Những gì tôi đang giải thích ở đây là lý thuyết, sự hiểu biết về mặt trí năng. Nhưng thực sự, điều cần thiết là phải đạt được một số kinh nghiệm cá nhân về những gì tôi đang nói ở đây. Giải thích lý thuyết về tinh túy tâm giống như mô tả các món ăn ngon khác nhau—đồ ăn Ấn Độ, đồ ăn Trung Quốc, hay bất cứ thứ gì—và giải thích mùi vị của mỗi món như thế nào. Bạn có được một ý tưởng trên phương diện trí năng về việc nó có thể có mùi vị như thế nào, nhưng bạn có thể nghe một trăm bài giảng và cái bạn có vẫn chỉ là một ý tưởng mà thôi. Một khi bạn cắn một miếng vào miệng và nó chạm vào lưỡi và vòm miệng, bạn nếm được hương vị.
Vào khoảnh khắc đó, bạn đạt được sự xác quyết chân thực về hương vị thực sự của món ăn đó. Đó được gọi là kinh nghiệm, khi chúng ta thực sự biết rằng món này nếm khá ngon hay món kia nếm thật ghê tởm. Kinh nghiệm là điểm mà tại đó chúng ta tự mình biết được điều đó.
Để cái thấy (the view) chỉ là lý thuyết đơn thuần thì thật vô ích. Chúng ta nghe tuyên bố trong Phật giáo rằng mọi thứ đều là trống không và không có bất kỳ sự hiện hữu thật sự nào, từ các uẩn của sắc thân vật lý cho đến và bao gồm cả trạng thái giác ngộ toàn tri. Điều này nổi tiếng khắp nơi như là nguyên lý chính của Phật giáo. Nghe điều này và thấu hiểu nó là nắm được ý tưởng như là sự hiểu biết trên phương diện trí năng. Thực ra, Đức Phật dạy điều này không phải từ quan điểm trí năng mà từ kinh nghiệm của chính ngài rằng mọi thứ từ uẩn của sắc cho đến giác ngộ hoàn toàn đều là trống không và không có sự hiện hữu thật sự.
Nhưng người nghe điều này có thể nói: "Được rồi, Đức Phật nói mọi thứ là trống không và không có tự ngã." Và người ấy có thể tiếp tục nghĩ rằng: "Chà, vậy thì thiện hay ác cũng là trống không, vậy tôi hành động thế nào thì có quan trọng gì?" Đó là một tà kiến nặng nề. Nếu chỉ đơn thuần tin vào một điều gì đó là đủ, thì tại sao không nghĩ rằng: "Ta là một vị Phật toàn giác"? Liệu điều đó có đủ tốt không? Bạn có được giác ngộ chỉ bằng cách tin rằng mình được giác ngộ không? Chỉ nắm được ý tưởng về cái thấy như một lý thuyết thì không đủ.
Thọ nhận chỉ dẫn trực chỉ là kinh nghiệm tinh túy tâm. Kinh nghiệm giống như đưa thức ăn vào miệng. Nếu không làm điều đó, không có cách nào để nếm được nó. Một khi bạn ăn thức ăn, bạn biết nó ngon hay dở; đó là kinh nghiệm. Kinh nghiệm là sự trang hoàng của tánh giác rigpa.
Khi nói đến tánh giác, chỉ có kinh nghiệm là hữu ích. Để nó là lý thuyết sẽ không giúp ích được gì hết. Nếu được, chúng ta có thể ngồi quanh và nói: "Vị Lạt-ma nói thế này thế kia về tánh Không, nên có lẽ nó là như vậy," nhưng chúng ta sẽ không bao giờ biết chắc chắn tánh Không là gì. Đó gọi là lý thuyết. Kinh nghiệm về cái thấy là khi bạn nhận biết bản tánh của tâm mình.
Khi trao và nhận giáo huấn trực chỉ, người ta trước tiên nên tụng Quy y và phát Bồ đề tâm. Giáo lý này không phải là một giáo lý hời hợt nào đó; nó là điều chân thực.
Mặc dù nó là giáo lý tối thượng, người ta vẫn tụng Quy y và Bồ đề tâm. Chính nhờ Phật, Pháp và Tăng mà chúng ta có thể nhận biết đối tượng Quy y chân thật. Những lời của Đức Phật, Giáo Pháp, được viết lại thành các bản văn. Và Tăng già cao quý là những người đã và đang gìn giữ, duy trì và hoằng truyền giáo lý này cho đến tận bây giờ.
Tiếp theo, theo truyền thống là quán tưởng đạo sư gốc (root guru) của bạn trên đỉnh đầu và dâng lên một lời khấn nguyện sâu sắc. Người cha nguyên thủy của tất cả chư Phật là Phật Phổ Hiền (Samantabhadra), người đại diện cho pháp thân (dharmakaya). Báo thân (sambhogakaya) được gọi là năm vị Phật, trong khi hóa thân (nirmanakaya) là các vị chúa tể của ba bộ: Văn Thù Sư Lợi (Manjushri), Quán Thế Âm (Avalokiteshvara) và Kim Cương Thủ (Vajrapani).
Dòng truyền thừa từ chư Phật này đến bạn giống như nước chảy từ đỉnh núi xuống tận đây. Nếu nó không bị gián đoạn ở bất kỳ đâu dọc theo dòng chảy, nước sẽ chảy ngay ra khỏi vòi nước của bạn. Tương tự như vậy, nếu dòng truyền thừa không bị đứt đoạn ở bất kỳ đâu, một cái gì đó được gọi là ‘dòng truyền thừa chỉ dẫn đơn nhất không gián đoạn’ sẽ đến từ vị đạo sư hiện tại của bạn và được bạn thọ nhận. Theo cách này, những sự ban phước của ba thân chư Phật cũng không bị đứt đoạn. Đây là lý do để khấn nguyện đến đạo sư gốc của bạn.
Chỉ đơn giản để tâm tự nhận biết chính nó, giống như cắt đứt xuyên qua suy nghĩ. Đó gọi là cái thấy của ‘sự cắt đứt triệt để’ (Trekchö). Nó triệt để theo cùng một cách như một sợi dây được cắt đứt hoàn toàn thành hai đoạn tách biệt nhau hoàn toàn. Tánh Không này không phải là thứ gì đó chúng ta tưởng tượng ra bằng cách thiền định; nó là như vậy một cách tự nhiên và từ nguyên thủy,. Không cần thiết phải chỉ nghĩ rằng nó là trống không. Chỉ cần an trụ, không tưởng tượng hay suy nghĩ bất cứ điều gì.
Khoảnh khắc bạn nghĩ, “Bây giờ nó là trống không,” một tư tưởng đã lẻn vào rồi. Điều này là không cần thiết. Quá trình liên tục hình thành các khái niệm và bám chấp này chính là gốc rễ của luân hồi. Bạn không cần phải nghĩ, “Cái này thật tuyệt!” hay “Cái này không đúng!” Hãy thoát khỏi thậm chí chỉ một đầu sợi tóc của tư tưởng khái niệm. Đây gọi là nhận biết sự tỉnh biết hiện tiền.
Trekchö cũng được gọi là ‘phần thứ tư mà không có ba’. Cách để được tự do là thoát khỏi ba phần, đó là những tư tưởng bị điều kiện hóa về quá khứ, hiện tại và tương lai. Khoảnh khắc thứ tư là khoảnh khắc vĩ đại phi thời gian. Trong đó, sự liên kết giữa thức, giác quan và đối tượng giác quan bị cắt đứt. Một khi liên kết này bị phá vỡ, xiềng xích của luân hồi bị phá vỡ. Tánh giác tự hiện hữu cần phải nhận biết chính nó.
Trekchö, sự cắt đứt triệt để, cắt đứt sự kết nối luân hồi; chỉ còn lại khoảng hở của khoảng không trống không ở giữa. Hãy an trụ mà không chạy theo quá khứ, không lên kế hoạch cho tương lai. Đức Phật đã mô tả khoảnh khắc nhận biết bản tánh tâm này: “Không sắc, không thanh, không hương, không vị, không xúc, không pháp”. Các đối tượng của ý được gọi là ‘dharma’ trong tiếng Phạn, nhưng từ này ở đây không có nghĩa là các giáo lý Phật pháp linh thiêng, nó có nghĩa là các hiện tượng.
Tánh giác tự hiện hữu này, trong đó không có vật gì để thấy, chính xác là cái được gọi là tánh Không. Có hai loại trống không khác nhau: cái trống rỗng và tánh Không (empty and emptiness). Không gian thì trống rỗng. Liệu không gian, cái hoàn toàn trống rỗng, có thể tự thấy chính nó không?. Mặt khác, tâm là tánh Không. Điều chúng ta cần thấy là tánh Không trong thực tế, không phải thứ gì đó ẩn giấu. Chúng ta cần thấy tánh Không, và cái thấy đó là phẩm tính rõ biết của chúng ta. Vào khoảnh khắc thấy tánh Không, chẳng phải sự thật là thậm chí không có gì nhỏ như một đầu ngọn tóc để thấy sao?.
Đây là điều mà Rangjung Dorje, Karmapa đời thứ ba, muốn nói khi ngài dạy: “Khi nhìn đi nhìn lại vào tâm vô hình tướng, sự thật rằng không có vật gì để thấy; điều đó được thấy một cách rõ ràng và sống động như nó là”. ‘Được thấy sống động như nó là’ có nghĩa là trong thực tế, không bị che giấu. Tinh túy tâm trong thực tế, như nó là, được thấy một cách sống động ngay khoảnh khắc bạn nhìn. Mặt khác, nếu chúng ta ngồi và nghĩ, “Ồ, tâm có lẽ trống không như không gian,” thì đó chỉ là tưởng tượng. Chúng ta không cần phải làm điều đó. Chúng ta không phải tưởng tượng rằng tâm là trống không; nó là như vậy trong thực tế. Khi bạn thấy nó như nó là, bạn thấy nó đã trống không rồi.
Tâm trong tinh túy là trống không. Tuy nhiên, nó có một tánh rõ biết, biết rõ ràng bất cứ điều gì tại bất kỳ thời điểm nào. Hai phương diện này, là trống không và là rõ biết, là một sự hợp nhất nguyên thủy. Bạn không cần phải bám chấp vào tinh túy tâm như một cái gì đó giống như bạn (chủ thể) đang biết cái kia (một đối tượng). Trống không và rõ biết là một sự hợp nhất tự nhiên, giống như nước thì ướt tự nhiên và lửa thì nóng tự nhiên.
Không cần có một người quan sát và vật được quan sát, hay việc tạo ra ý nghĩ, “Bây giờ tôi thấy nó.” Điều đó sẽ là nắm giữ một khái niệm trong tâm. Hãy nhận biết người suy nghĩ và tư tưởng tự tan biến, bởi vì một tư tưởng không có sự ổn định vốn sẵn. Mọi tư tưởng là trống không; khi bạn thực sự nhìn vào nó, nó chỉ có thể tan biến một cách tự nhiên. Một khi bạn thực sự khám phá ra điều này, không cần phải nhìn chỗ này chỗ kia; chỉ cần để yên như thế.
Vào khoảnh khắc kinh nghiệm tinh túy tâm, chẳng phải là không thể tìm thấy bất kỳ từ ngữ nào để diễn tả nó thực sự là như thế nào sao? Nếu bạn tạo ra các từ ngữ về nó—"Bây giờ nó là trống không, bây giờ nó là rõ biết,"—chẳng phải đó chỉ đơn giản là những từ ngữ làm tâm chật chội sao? Khi toàn bộ mục đích là để cho suy nghĩ của chúng ta tan biến, thì việc hình thành thêm nhiều tư tưởng có ích gì?
Bạn có thể đã nghe câu nói này: "Trí huệ siêu việt vượt ra ngoài tư tưởng, ngôn từ và sự mô tả." Khoảnh khắc bạn nhận biết tinh túy tâm, không thể tìm thấy từ ngữ và mô tả cho việc nó là như thế nào. Hãy để cho suy nghĩ của bạn biến mất, tan biến, chỉ đơn giản là biến mất một cách tự nhiên.
Trên thế giới này không có gì khác có thể làm cho điều đó xảy ra. Chúng ta có thể cho nổ tung tất cả các bom hạt nhân mà chúng ta thích, và tâm vẫn sẽ khuấy động ra những tư tưởng. Chỉ có một cách duy nhất để tan biến suy nghĩ, và đó là nhận biết bản tánh của bạn. Tư tưởng vào khoảnh khắc đó tự nó biến mất hoàn toàn, không còn chút dấu vết nào.
Tại sao lại như vậy? Đó là bởi vì tâm của tất cả chúng sinh luôn luôn là trống không từ nguyên thủy. Kinh nghiệm về tánh Không không phải là điều gì đó đột nhiên xảy ra từ hư vô. Ngay khoảnh khắc bạn nhận biết tinh túy của tâm mình, không có vật gì để thấy.
Thành thật mà nói, điều này không kéo dài quá một vài giây. Bởi vì thói quen của chúng ta là luôn bị cuốn vào những tư tưởng của mình, một thói quen đã tiếp diễn qua vô thủy kiếp sống cho đến bây giờ, không có sự ổn định thực sự ở đó; sự chứng ngộ của chúng ta bị mất đi khá nhanh. Khoảnh khắc chúng ta quên, chúng ta bắt đầu nghĩ về rất nhiều thứ khác nhau. Sau đó, một lần nữa chúng ta nhận thấy, "Ồ, tôi đã bị cuốn đi; bây giờ tôi đang nghĩ về đủ thứ chuyện khác."
Sự tu tập trong việc nhận biết tinh túy của bạn chỉ đơn giản là ở yên trong tánh tự nhiên. Tánh tự nhiên ở đây có nghĩa là không có bất kỳ kỹ thuật nào, không có sự giả tạo nào. Đây là một ví dụ rất đơn giản về tánh tự nhiên: nước sông có cần ai đẩy hay kéo nó xuống dòng không, hay nó chảy tự nhiên?. Bạn không cần phải làm gì với nó cả. Gỗ làm nên chiếc bàn của tôi ở đây đã được chế tác thành hình dạng này. Khi nó là một cái cây mọc trên sườn núi, nó là tự nhiên, không bị sửa đổi. Sau đó, một người thợ mộc đã lấy nó và làm nó thành một cái bàn. Bây giờ nó là nhân tạo (đã qua tạo tác).
Chúng ta cần tránh uốn nắn tánh giác của mình thành một thứ gì đó nhân tạo. Ngay khoảnh khắc bạn nhận biết, đừng lo lắng hay phán xét hay suy đoán về nó; đừng làm bất cứ điều gì với nó, đừng cố gắng cải thiện hay thay đổi nó. Hãy cho phép sự không xao lãng kéo dài chừng nào nó còn kéo dài, như là tánh tự nhiên không xao lãng. Thấy rõ ràng rằng không có vật gì để thấy, mà không cố gắng cải thiện hay thay đổi điều đó.
Mọi người kinh nghiệm những mức độ ổn định bẩm sinh khác nhau trong thực hành này, dựa trên sự tu tập trước đây của họ. Sự ổn định bẩm sinh đó kéo dài bao lâu thì khó nói. Nó có thể kéo dài một chút, nhưng nếu không có sự tu tập trước đó, nó có thể trượt đi gần như ngay lập tức. Đừng ngồi và thúc ép quá mạnh và nghĩ rằng, "Tôi không được xao lãng, tôi không được xao lãng." Đơn giản là cho phép những khoảnh khắc không xao lãng tự nhiên diễn ra và mở ra.
Nhận biết tinh túy tâm không có nghĩa là ngồi và thiền định về tinh túy tâm. Nó có nghĩa là đơn giản là để thả cho kinh nghiệm về bản tánh rõ biết và trống không của chúng ta như nó vốn là.
Đây là những gì chúng ta thực sự là: trống không trong tinh túy, rõ biết trong bản tánh, có khả năng nhận thức, với không có rào cản nào giữa hai phương diện này. Phẩm tính trống không này được gọi là pháp thân. Nhưng chúng ta không chỉ trống không—không giống như không gian, chúng ta sở hữu một phẩm tính biết. Đây là điều được mô tả là bản tánh rõ biết, báo thân. Năng lực là sự hợp nhất của hai điều này, thấm nhập khắp với tánh giác. ‘Năng lực’ ở đây có nghĩa là trống không và rõ biết không thể bị tách rời; chúng là một sự hợp nhất nguyên thủy. Và ‘thấm đẫm với tánh giác’ ám chỉ đến tánh giác Rigpa.
Tâm của tất cả chúng sinh là sự hợp nhất của sự rõ biết-trống không, nhưng bởi vì họ không được thấm đẫm bởi tánh giác, họ không biết điều này,. Mặc dù tâm họ là sự hợp nhất của sự rõ biết-trống không như một thể thống nhất, chúng lại bị thấm đẫm bởi sự vô minh, bởi sự không biết. Ngay khoảnh khắc chúng ta nhận biết bản tánh của mình là sự rõ biết-trống không, nó trở thành sự rõ biết-trống không thấm đẫm tánh giác, thấm đẫm bởi cái biết.
Sự khác biệt giữa chư Phật và chúng sinh là sự khác biệt giữa biết và không biết,. ‘Biết’ có nghĩa là biết bản tánh của chính mình, khuôn mặt tự nhiên của một người. Sự tỉnh biết hiện tiền không sửa đổi hay không tạo tác này chính là Phật Phổ Hiền (Samantabhadra) chân thật, cái mà bạn chưa bao giờ tách rời dù chỉ một khoảnh khắc. Trong khi nhận biết, hãy nghỉ ngơi một cách tự nhiên.
Khi sự tỉnh biết hiện tiền này tự nhận biết chính nó, không có bất cứ vật gì để thấy,. Đó là tinh túy trống không—đó là pháp thân. Tuy nhiên, cùng với sự chứng ngộ rằng không có gì để thấy, là một cái biết hay cái thấy rằng điều này là như vậy. Đó là bản tánh rõ biết - báo thân. Tinh túy trống không và bản tánh rõ biết này vĩnh viễn là bất khả phân. Đó là sự hợp nhất, hóa thân.
Ngay trong khoảnh khắc nhận biết, ba thân này đã được thấy. Không có gì ngăn che sự chứng ngộ này, không có gì ở giữa ba thân và tánh giác của bạn. Biết điều này là ‘tánh giác bản nguyên tự rõ biết’, rang-rig. Không biết chính là luân hồi. Vô minh là một chúng sinh, nhưng biết là một vị Phật. Giáo lý này là điều gì đó vô cùng quý báu. Để có được việc bản tánh của một người được chỉ thẳng ra là một thiện đức vô cùng to lớn, và chỉ nhờ vào lòng bi mẫn của Đức Phật mà chúng ta có được giáo lý này.
Tóm lại, hãy nhận biết chính mình và đối mặt với ba thân của bậc giác ngộ. Để cho sự chú tâm của bạn đi lạc, bị cuốn vào ba độc, là đi lạc xa hơn vào luân hồi. Điều đó chắc chắn xảy ra, phải không? Khoảnh khắc chúng ta thấy một hình sắc đẹp, chúng ta yêu thích nó. Khoảnh khắc chúng ta thấy thứ gì đó xấu xí, chúng ta ghét nó, phải không? Và nếu đó là thứ gì đó trung tính, chúng ta không quan tâm . Đây là ba độc, và chúng cứ tiếp diễn mãi mãi. Khi chúng ta thấy thứ gì đó mình thích, chúng ta trở nên mê mẩn và cảm thấy bám luyến, trong khi chúng ta cảm thấy ghét bỏ và không muốn nhìn những thứ mình không thích. Đối với thứ gì đó trung tính, chúng ta cảm thấy thờ ơ, tối tăm, khép kín. Tại khoảnh khắc bị cuốn vào ba độc, không có sự nhận biết bản tánh của chính mình; ba thân của trạng thái giác ngộ trượt mất đi.
Không có gì ưu việt hơn việc gặp gỡ mặt đối mặt với ba thân của trạng thái giác ngộ. Điều đó chẳng phải là sự thật sao? Thấy rằng không có tư tưởng sẽ chế ngự hoặc tống khứ bất kỳ tư tưởng nào trước đó. Khi mặt trời chiếu sáng, không có bóng tối. Trong khi thấy, không thể có bất kỳ tư tưởng nào còn vương vấn hay được hình thành. Sự mê lầm hoàn toàn tan biến,. Trạng thái giác ngộ là thoát khỏi tư tưởng (vô niệm).
Nhưng chỉ đơn thuần nghĩ rằng “Tôi muốn thoát khỏi tư tưởng” thì không phải là trạng thái giác ngộ. Đó chỉ là một tư tưởng khác. Cũng tương tự như việc kiểm tra: “Bây giờ có tư tưởng không, hay là đang thoát khỏi tư tưởng?” Đó chẳng phải cũng chỉ là một tư tưởng khác sao?. Cần thiết phải an trụ hoàn toàn không pha trộn hay không bị ô nhiễm bởi tư tưởng. Trạng thái giác ngộ là thoát khỏi tư tưởng, nhưng lại tỉnh thức một cách sống động. Nếu chúng ta tu tập điều này một cách đều đặn và dần dần, nó trở thành trạng thái hoàn toàn giác ngộ, Phật quả.
Có một sự vững vàng hay ổn định tự nhiên trong khoảnh khắc nhận biết tinh túy tâm,. Để hiểu sự ổn định tự nhiên, hãy nghĩ đến một cây kim so với một sợi tóc. Một sợi tóc, dù nó có dày đến đâu, cũng không ổn định; nó di chuyển trong làn gió nhẹ nhất. Nhưng một cây kim, bất kể nó mỏng thế nào, không thể bị gió uốn cong.
Chúng ta cần phải ổn định tự nhiên trong tánh Không. Chúng ta không phải tưởng tượng tánh Không bằng cách thiền định. Nếu chúng ta làm điều này, nó trở thành một hành động của suy nghĩ—chúng ta chỉ đang nghĩ về tánh Không. Khi chúng ta quên tinh túy tâm, chúng ta bị xao lãng, sự mê lầm khởi sinh. Thiền định là thuộc về khái niệm, bị xao lãng là mê lầm. Thay vào đó, hãy ổn định tự nhiên trong trạng thái không thiền định, cũng không xao lãng. Trạng thái không thiền định, cũng không xao lãng này không phải là thứ bạn phải tạo ra. Bạn không cần phải nắm giữ ý tưởng về điều đó. Chỉ cần cho phép sự tỉnh biết hiện tiền được ổn định tự nhiên bằng cách vượt thoát khỏi tư tưởng. Hãy an trú ổn định không phải trong việc giữ một tư tưởng, mà trong sự vắng mặt của tư tưởng.
Làm như vậy là kinh nghiệm cái chúng ta gọi là ‘sự tỉnh biết hiện tiền’ hay ‘sự tỉnh biết vô niệm’. ‘Vô niệm’ có nghĩa là thoát khỏi suy nghĩ khái niệm, tuy nhiên phẩm tính biết hay tỉnh thức không bị mất đi. Nếu bạn muốn tìm hiểu xem việc mất đi cảm giác tỉnh thức này như thế nào, hãy nhờ ai đó đánh bạn ngất xỉu bằng một thanh sắt để bạn có thể kinh nghiệm sự bất tỉnh không có thức! Ngay bây giờ, trong khoảnh khắc nhận biết, chúng ta không vô thức. Phẩm tính tỉnh thức không bị mất, nhưng lại không có tư tưởng.
Nếu bạn dành cả đời tu tập như thế này, cuối cùng suy nghĩ sẽ yếu đi và các tư tưởng sẽ giảm bớt. Nhưng sự tương tục của sự tỉnh biết vô niệm không bị mất đi. Nó kéo dài trong những khoảng thời gian ngày càng dài hơn một cách tự nhiên, tự nó, trong khi những khoảnh khắc của suy nghĩ khái niệm trở nên yếu hơn và chiếm ít thời gian hơn. Cuối cùng, bạn trở nên hoàn toàn thoát khỏi tư tưởng. Suy nghĩ khái niệm biến mất, và chỉ còn sự tỉnh biết hiện tiền vô niệm, không gián đoạn suốt cả ngày lẫn đêm. Đó gọi là tâm Phật.
Chúng ta cần tu tập trong sự tỉnh biết vô niệm này, nhưng không phải bằng cách thiền định về nó hay tưởng tượng ra nó. Nó đã hiện diện từ nguyên thủy rồi. Tuy nhiên, sự tỉnh biết hiện tiền này bị cuốn vào trong suy nghĩ. Để thoát khỏi tư tưởng, chỉ cần đơn giản nhận biết; nhận biết sự tỉnh biết hiện tiền của bạn. Đừng quên; đừng bị xao lãng. Điều đó không có nghĩa là ngồi và ép buộc bản thân không được xao lãng và không được quên. Cố gắng như thế chỉ làm hỏng việc.
Đơn giản hãy cho phép trạng thái cơ bản của bạn là không thiền định cũng không xao lãng. Khi tất cả các hoạt động của tâm nhị nguyên tan biến, khi chúng ta hoàn toàn ổn định trong tính rõ biết-trống không vô biên, thì không còn cơ sở nào để duy trì trong ba cõi luân hồi nữa.
Ngay cả khi sự nhận biết tánh giác của chúng ta không trở nên liên tục suốt ngày và đêm—ngay cả khi chúng ta chỉ có thể duy trì nó trong những khoảnh khắc ngắn được lặp đi lặp lại nhiều lần—giá trị của việc tu tập trong thực hành nhận biết tinh túy tâm này sẽ trở nên hoàn toàn hiển nhiên vào thời điểm cái chết đến. Vào một thời điểm nào đó, tất cả chúng ta chắc chắn sẽ chết; không ai thoát khỏi điều đó trên thế giới này. Bất cứ ai sinh ra đều sẽ chết.
Nếu chúng ta có thể nhận biết vào khoảnh khắc hơi thở ngừng lại và chúng ta tách rời khỏi thân xác huyễn ảo này, chúng ta có thể trong ba giây hoàn thiện sức mạnh của sự nhận biết đó và ổn định nó. Nó trở thành trạng thái pháp thân, giống như không gian hòa nhập với không gian. Điều đó giống hệt như những gì xảy ra với không gian bên trong một chiếc bình bị vỡ: không gian bên trong và không gian bên ngoài, vốn cho đến thời điểm này bị ngăn cách bởi thành bình, trở thành một. Tương tự như vậy, trạng thái nền tảng của pháp thân không tạo tác, vốn là Phật tánh hiện diện trong tất cả mọi người, và pháp thân con đường, vốn là sự rõ biết-trống không mà chúng ta đã tu tập, kết hợp thành một thể hợp nhất bất khả phân.
Quá trình thần thức của chúng ta tách rời khỏi cơ thể vật lý đi kèm với sự tan rã của tất cả các trạng thái tư tưởng hoặc khuôn mẫu tinh thần thô và tế. Vào điểm này, hoàn toàn không có gì che phủ trạng thái cơ bản của tâm. Điều này được gọi là ‘quang minh nền tảng của sự thành tựu viên mãn’, đôi khi được mô tả là quang minh nền tảng và quang minh con đường gặp gỡ mặt đối mặt.
Vào khoảnh khắc đó, sức mạnh tu tập của chúng ta trong đời này có thể tạo ra khả năng nhận biết tánh giác bản nguyên. Nếu chúng ta chưa từng tu tập chút nào, trạng thái căn bản sẽ không kéo dài lâu hơn một cái liếc nhìn thoáng qua. Nhưng nếu chúng ta đã tu tập, thì vào khoảnh khắc đó, sự giác ngộ hoàn toàn là rất có thể.
Điều này được nêu trong một mật điển: “Trong một khoảnh khắc sự khác biệt được tạo ra; trong một khoảnh khắc sự giác ngộ hoàn toàn được thành tựu.”
Tất cả những gì cần thiết là để cho sự nhận biết tánh giác bản nguyên được duy trì trong ba giây. Kinh điển mô tả nó như khoảng thời gian cần thiết để vẫy ống tay áo dài của chiếc áo choàng Tây Tạng hoặc một chiếc khăn trắng ba lần trong không khí. Nếu chúng ta có thể làm điều này, chúng ta có thể đạt được sự ổn định hoàn toàn trong trạng thái sau khi chết.
Quang minh nền tảng giống như người mẹ, trong khi quang minh con đường giống như đứa con. Mẹ và con luôn nhận ra nhau, phải không? Khi quang minh nền tảng và quang minh con đường nhận ra nhau trong khoảng thời gian tích tắc đó, dù mức độ quen thuộc có nhỏ đến đâu, nó vẫn sẽ đủ để tái sinh vào một cõi Phật thanh tịnh, nơi được gọi là ‘các cõi hóa thân tự nhiên.’ Ở đó, bạn sẽ chiêm ngưỡng khuôn mặt của Đức Phật, nghe giọng nói của ngài và vượt qua những che chướng còn sót lại. Nếu có sự quen thuộc mạnh mẽ, nó giống như không gian hòa nhập với không gian, và bạn trở thành Một vị với trạng thái của pháp thân.
Lý do tại sao việc tu tập trong đời này có thể mang lại lợi ích to lớn như vậy sau khi chết là vì trong trạng thái trung ấm (bardo), tâm chúng ta không kết nối với một thân xác, nên nó thoát khỏi sự che chướng liên tục mà chúng ta trải nghiệm trong đời sống. Ngay bây giờ, chúng ta có thể nhận biết tâm mình trong một cái nhìn thoáng qua ngắn ngủi, chỉ để nó ngay lập tức bị che lấp lại lần nữa. Nhưng sau khi chết, những che chướng do thân xác tạo ra không còn ở đó.
Bạn cần phải tu tập theo những chỉ dẫn này để vượt qua những che chướng của nhận thức (sở tri chướng). Thông qua sự tu tập này, cuối cùng bạn sẽ đạt đến trạng thái bất thối chuyển, được gọi là trạng thái không còn thoái lui, không còn rơi rụng lại. Đây là kết quả chân thực, thực sự, là lợi lạc kiếm được từ tất cả những nỗ lực thực hành. Chúng ta nên kinh nghiệm một số kết quả tích cực từ sự thực hành của mình.
Thực hành này chắc chắn sẽ giúp ích vào thời điểm cái chết. Ngay bây giờ, chúng ta có thể tu tập trong việc nhận biết và duy trì trạng thái tự nhiên, nhưng chúng ta không giác ngộ ngay lập tức, bởi vì thân và tâm vẫn còn kết nối với nhau. Tuy nhiên, thực hành mang lại nhiều lợi ích khác xảy ra ngay trong đời này. Một là, chúng ta không rơi vào dưới quyền lực của ba độc. Khi chúng ta nhận biết, củng cố sự nhận biết của mình và đạt được sự ổn định, chúng ta luôn an vui, bất kể chúng ta đang ở với ai, và bất cứ nơi nào chúng ta đi, mặt trời hạnh phúc đều chiếu sáng.
Nếu không, chúng ta giống như bất kỳ người bình thường nào khác: chán nản khi không vui và quá khích khi hạnh phúc. Nói cách khác, chúng ta hoàn toàn không ổn định. Thông qua thực hành này, tốt và xấu trở nên bình đẳng, mà không cần phải chấp nhận cái này và chối bỏ cái kia,. Ngay cả trước khi chết, chúng ta sẽ hoàn toàn thoải mái.
Vấn đề thực sự là trạng thái tâm của một người bình thường, cái luôn thay đổi từ điều này sang điều khác. Hữu tình chúng sinh hoàn toàn không ổn định, nhưng một người đã thực sự nhận biết tinh túy tâm và ẩn tu trong núi non thì hoàn toàn thoát khỏi khổ đau. Ngay cả trong kiếp sống này, người ta có thể hoàn toàn thoát khỏi đau đớn và tiến xa hơn nữa trên con đường hạnh phúc. Có lợi ích to lớn từ thực hành này. Không bao giờ là dễ chịu khi duy trì trạng thái tâm của một người bình thường, cái luôn luôn thay đổi. Khi không vui, người ta hoàn toàn bị cảm giác đó áp đảo. Tốt hơn là hãy nhận biết tính rõ biết-trống không và an trụ như vậy.
Về cơ bản, không có gì để làm trong thực hành này ngoài việc tu tập để trở nên ổn định. Đơn giản để cho tâm chúng ta [như là] mà không cần phải làm bất cứ điều gì, là hoàn toàn trái ngược với những thói quen thông thường của chúng ta. Khuynh hướng bình thường của chúng ta là nghĩ, “Tôi muốn làm điều này. Tôi muốn làm điều kia.” Sau đó, chúng ta thực sự đi làm điều đó. Cuối cùng, chúng ta cảm thấy hạnh phúc và thỏa mãn khi mọi thứ đều gọn gàng, tất cả đã hoàn tất, được hoàn thành bởi chính chúng ta.
Nhưng thái độ đó hoàn toàn sai lầm trong bối cảnh của loại thực hành này. Không có bất cứ điều gì để làm cả. Chúng ta không phải tạo tác nên cái chưa hình thành. Bất cứ điều gì chúng ta cố gắng làm đều trở thành một sự bắt chước, thứ gì đó được tạo ra bởi những tư tưởng và khái niệm của chúng ta.
Thực tế là, có thể cảm thấy hoàn toàn không thỏa mãn, cực kỳ thất vọng, khi cho phép bản tánh nguyên thủy của chúng ta được như nó tự nhiên là. Chúng ta thà làm một cái gì đó, tưởng tượng một cái gì đó, tạo ra một cái gì đó, và thực sự tự đặt mình qua rất nhiều gian khổ. Có lẽ đó là lý do tại sao Đức Phật không dạy Đại Toàn Thiện (Dzogchen) và Đại Thủ Ấn (Mahamudra) một cách công khai—bởi vì sự không-làm (not-doing) này theo một số cách là trái ngược với bản tính con người.
Phật tánh thoát khỏi ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai, trong khi tâm thức chúng ta nằm dưới quyền lực của ba thời. Sự tỉnh giác thoát khỏi ba thời. Ba thời liên quan đến việc bám chấp, suy nghĩ. Sự tỉnh biết thoát khỏi bám chấp và tư tưởng.
Đức Phật nhận ra rằng các chúng sinh khác nhau có những căn cơ khác nhau, nên vì lòng đại bi và phương tiện thiện xảo, ngài đã ban những giáo lý phù hợp cho những cá nhân khác nhau,. Mặc dù tinh túy của tất cả những giáo lý của các bậc giác ngộ là chỉ đơn giản ở yên trong sự nhận biết bản tánh của chính mình, Đức Phật đã dạy rất nhiều chỉ dẫn phức tạp để làm thỏa mãn mọi người ở mọi cấp độ khác nhau. Một lý do khác tại sao có chín thừa, chín yanas, là bởi vì mọi người không thể để yên cho mọi chuyện được tốt đẹp. Dường như bản tánh con người là yêu thích sự phức tạp, muốn xây dựng lên rất nhiều thứ. Sau đó, tất nhiên, họ phải để nó sụp đổ ra từng mảnh một lần nữa.
Vì vậy, để lặp lại lần nữa: để làm mọi người hạnh phúc, Đức Phật và các đạo sư vĩ đại đã dạy chín thừa. Sự đa dạng của các giáo lý đang tồn tại không làm thay đổi sự thật rằng tinh túy cốt tủy của Giáo Pháp, Phật tánh, là cực kỳ đơn giản và dễ dàng. Thực sự, nó đơn giản và dễ dàng đến mức đôi khi thật khó tin!
Nếu chúng ta thực sự nỗ lực chân thành, sẽ đến lúc chúng ta khám phá ra cái gọi là ‘đưa vào trạng thái tự nhiên’. Khi bạn kinh nghiệm điều này, đột nhiên nó không còn quá khó khăn nữa. Chúng ta nhận ra rằng điều tuyệt vời gọi là Phật tánh, tinh túy tâm của chúng ta, hoàn toàn không nằm ngoài tầm với. Vì nó không phải là thứ gì đó rất phức tạp, chỉ cần để thả cho phép điều đó được duy trì thường xuyên. Khi việc nhận biết khuôn mặt tự nhiên của bạn trở nên hoàn toàn dễ dàng và đơn giản, bạn đã ‘được đưa vào trạng thái tự nhiên’.
Truyền thống chung về việc ban giáo huấn chỉ thẳng này nói rằng chúng ta cần đi từng bước một. Đầu tiên chúng ta hoàn thành các quán chiếu về bốn niệm chuyển tâm. Tiếp theo, chúng ta đi qua các thực hành sơ khởi bốn lần một trăm ngàn, và sau đó là thực hành yidam bên trong về bổn tôn, thần chú và samadhi (đại định). Và quả thực tất cả những điều này vẫn cần thiết, ngay cả khi chúng ta đã thọ nhận các giáo lý về tinh túy tâm. Đừng có ý tưởng rằng đột nhiên tất cả các thực hành được chư Phật dạy đều không quan trọng; hoàn toàn không phải như vậy.
Vì không dễ dàng hay phổ biến để có cơ hội thọ nhận giáo lý này, tôi cảm thấy mình nên nói thẳng ra và trao truyền nó. Xin hãy nhớ rằng chúng ta có thể dễ dàng thọ nhận các giáo lý quan trọng khác từ nhiều đạo sư khác nhau, vì vậy bạn không nên phớt lờ chúng.
Xin hãy tinh tấn trong thực hành. Thực sự, sự khác biệt giữa chư Phật và chúng sinh bình thường là sự tinh tấn.
Tôi ban truyền giáo lý này bởi vì tôi rất hay nói. Tôi không thể kìm lại được; tôi phải để tất cả tuôn ra! Khi tôi còn nhỏ, tôi đã dành nhiều thời gian với chú tôi, Tulku Samten Gyatso, người cũng là đạo sư gốc của tôi. Tôi đã lắng nghe bất cứ chỉ dẫn nào ngài ban truyền. Thường đó sẽ là giáo huấn chỉ thẳng và lời khuyên làm sao để thực sự thiền định theo cách đơn giản nhất.
Sau đó, có thể có vài người bên ngoài phòng ngài không thực sự hiểu những gì ngài đã nói. Họ sẽ nói: “Làm sao nó có thể dễ dàng như thế được?” Và tôi sẽ nói: “Tại sao các vị lại nghĩ nó phải khó khăn—nó thực sự rất dễ dàng.” Sau đó họ sẽ nói: “Nhưng tôi không nắm được.” Và tôi sẽ trả lời: “Ý các vị là gì, các vị không nắm được ư? Chỉ cần để yên!”. Tôi có kiểu thái độ đó bởi vì tôi đã nghe những gì chú tôi nói, và tôi chỉ lặp lại điều đó.
Đôi khi chú tôi gọi tôi vào và nói: “Dường như con hay nói, cũng như là người nghĩ rằng điều đó hoàn toàn dễ dàng. Không có vấn đề gì với điều đó cả; con đơn giản là kiểu người như vậy. Ta nghĩ rằng trong tương lai con cũng sẽ như thế này—con sẽ vừa hay nói và vừa là người hành xử như thể mọi thứ thực sự đơn giản!” Và ngài đã đúng.
Một mặt, có lẽ tôi chỉ đang lừa mọi người, làm cho nó quá đơn giản. Nhưng mặt khác, đây thực sự là cách nó là! Đó là sự thật. Có ích gì khi cố gắng ngồi và thúc ép và vật lộn, khi bạn có thể để cho ba thân của Phật quả hiện diện một cách tự nhiên? Tại sao chúng ta phải căng thẳng và uốn éo mình vào một tư thế không thoải mái và một trạng thái thiền định căng thẳng với một chút hy vọng rằng trong tương lai, sau rất nhiều rắc rối, chúng ta có thể đến được đó? Bạn không cần phải trải qua tất cả những rắc rối và căng thẳng đó. Tất cả những gì bạn cần làm là hoàn toàn để yên và nhận biết bản tánh của mình ngay bây giờ.
Bởi vì mọi người thì khác nhau, nên cần có những cấp độ giáo lý khác nhau; chúng ta cần thứ gì đó hoàn toàn phù hợp với chính mình. Và có bốn sự giải thoát: giải thoát qua sự nghe, giải thoát qua sự nhớ, giải thoát qua sự hiểu, v.v.. Có lẽ tất cả những gì tôi nói không bị lãng phí. Có lẽ có một số người đã hiểu những gì tôi nói. Có lẽ có một số người sẽ nhớ giáo lý này và được giải thoát.
Nếu chúng ta thực sự thực hành những gì được dạy ở đây hôm nay, cuối cùng sẽ có thể nhận biết bản tánh của chính mình là cái biết trống không vô biên. Giáo huấn chỉ thẳng là sự tỉnh biết hiện tiền được chỉ ra như nó là. Nó không phải là thứ gì đó trong tương lai, không phải trong quá khứ, mà hiện diện ngay bây giờ. Bạn không cần phải chấp nhận hay chối bỏ nó. Đừng làm bất cứ điều gì với nó: đừng nắm lấy, đừng tránh né, đừng nuôi dưỡng bất kỳ hy vọng hay sợ hãi nào, đừng cố gắng thay đổi, biến đổi hay cải thiện nó. Điều đó hoàn toàn không cần thiết.
Về mặt tu tập trong thực hành này, có ba bước: nhận biết, phát triển mạnh mẽ và đạt được sự ổn định. Quan trọng nhất là nhận biết. Trên thế giới này, có điều gì quý giá hơn, thâm sâu hơn Ba Thân không?. Việc sự thâm sâu này hiện diện ngay trong chính chúng ta và chúng ta có thể nhận biết sự thật này trong thực tế là bước đầu tiên.
Nó giống như việc thừa nhận hạt giống của một bông hoa. Nó có thể rất nhỏ, giống như hạt giống của bông hoa ngay tại đây lúc ban đầu. Nó trông không đáng kể lắm, bởi vì chúng ta không thấy những phẩm tính giác ngộ biểu lộ trọn vẹn trong khoảnh khắc nhận biết. Tuy nhiên, chúng ta cần thừa nhận hạt giống này là hạt giống của một bông hoa. Chúng ta có thể không thấy các màu sắc ngay bây giờ, màu vàng hay đỏ hay trắng rực rỡ sẽ phô diễn. Nhưng bằng cách gieo hạt giống này, khả năng của một bông hoa sẽ trở thành hiện thực. Chúng ta tưới nước và bón phân cho đất, nuôi dưỡng cây con. Nếu chúng ta làm điều đó, chắc chắn nó sẽ nảy mầm và phát triển những chiếc lá nhỏ xíu rồi từ từ lớn dần lên. Nhụy hoa sẽ hình thành, các nụ hoa—và cuối cùng sẽ có một bông hoa nở rộ hoàn toàn. Tất cả điều này là không thể tránh khỏi hoặc tất yếu nếu các điều kiện thích hợp được cung cấp.
Với sự nhận biết cũng tương tự như vậy. Không phải là chúng ta đột nhiên hoàn toàn giác ngộ ngay sau khi nhận biết thấy [bản tánh tâm] lần đầu tiên. Thay vào đó, khoảng thời gian từ khoảnh khắc nhận biết lần đầu tiên cho đến khi đạt được sự ổn định hoàn toàn chính là Con đường. Tất cả các giáo lý khác nhau của Đức Phật đều có những cách riêng để xác định các giai đoạn của con đường. Nhưng tất cả đều bao gồm việc phát triển mạnh mẽ của sự nhận biết Phật tánh.
Chúng ta cần để cho sự nhận biết này lớn lên. Nó giống như một đứa trẻ sơ sinh: chúng ta không thể mong đợi một em bé sinh ra hôm qua trở thành một người đàn ông hay phụ nữ trưởng thành hoàn toàn vào hôm nay. Em bé cần lớn lên dần dần. Tương tự như vậy, chúng ta cần lớn lên trong sự nhận biết Phật tánh, và cách duy nhất để làm như vậy là thông qua tu tập.
Xin hãy tu tập trong thực hành này, bởi vì đây là cách mà chúng ta có thể thức tỉnh để đạt đến giác ngộ hoàn toàn. Mặc dù có nhiều thực hành khác nhau trong Phật giáo, đây là trái tim, là tinh túy cốt yếu nhất của những gì Đức Phật đã dạy. Đây là những gì chúng ta cần tu tập để đạt được giác ngộ hoàn toàn.
Ngay bây giờ, trong chính khoảnh khắc nhận biết tinh túy tâm, có một sự vắng mặt tức thì của các cảm xúc phiền não, của vô minh, và của suy nghĩ mê lầm. Sự tu tập này đơn giản là duy trì sự không xao lãng bởi vì chính sự không xao lãng này đưa chúng ta đi trọn con đường đến giác ngộ hoàn toàn. Không xao lãng không có nghĩa là cố ý cố gắng để không bị xao lãng, như chúng ta làm khi thay thế những suy nghĩ bình thường bằng suy nghĩ “Đừng xao lãng.” Nó đơn giản là không quên, không thất niệm. Khoảnh khắc chúng ta quên mất—và chúng ta thực sự quên—cả sự thực hành và tất cả những thứ khác đều bị lãng quên, bởi vì sự chú ý của chúng ta đi lạc. Điểm then chốt ở đây không phải là giữ sự không xao lãng theo một cách thức khái niệm. Nó đơn giản là cho phép trạng thái của sự rõ biết-trống không không giới hạn - cái mà tự nó vốn không xao lãng - được tiếp tục. Đó chính là sự tu tập.
Hãy thử tưởng tượng xem sẽ như thế nào khi khoảnh khắc của sự rõ biết-trống không được thấm đẫm bởi tánh giác này bắt đầu kéo dài trọn một giờ, không gián đoạn. Ngay khoảnh khắc đầu tiên của sự rõ biết- trống không đã có tiềm năng cho sự toàn tri trọn vẹn, cũng như tiềm năng cho lòng từ và bi—khả năng tiềm tàng để bảo vệ và giúp đỡ các chúng sinh khác, cũng như để biểu lộ hoạt động vận hành vì lợi ích của tất cả. Tất cả những phẩm tính này đều hiện diện, nhưng chưa biểu lộ trọn vẹn. Thời gian này kéo dài càng lâu, các phẩm tính càng trở nên rõ ràng, được hiện thực hóa. Chúng không chỉ xuất hiện sau này, khi mà sự chứng ngộ được kinh nghiệm trọn vẹn.
Khi mặt trời mọc vào buổi sáng, chúng ta có phải đợi nó chiếu sáng thì nó mới ấm áp và rực rỡ không? Mặc dù mặt trời buổi trưa có thể mạnh hơn mặt trời buổi bình minh, nhưng tất cả các phẩm tính của nó đều hiện diện ngay từ khoảnh khắc đầu tiên, mặc dù chúng có thể chưa biểu lộ trọn vẹn. Trong sự tu tập này cũng vậy. Điều cốt yếu là tu tập để đạt được sự an trú ổn định.
Xin hãy hiểu rằng tánh giác tự hiện hữu (rangjung), từ nguyên thủy đã được ban tặng đầy đủ tất cả các phẩm tính hoàn hảo. Các phẩm tính của giác ngộ không phải là một sự tạo tác hay một sản phẩm. Chúng không phải là một thành tựu mới, một khám phá mới chưa từng có, hay thứ gì đó mà chúng ta sở đắc. Chúng hiện diện ngay từ ban đầu.
Nó giống như sự rực rỡ bất biến của mặt trời chiếu sáng trên bầu trời. Nó có thể bị che khuất bởi những đám mây, nhưng những đám mây này không phải là cái ban đầu, cũng không phải cái vốn có của bầu trời; chúng luôn là tạm thời, nhất thời. Điều ngăn cản sự chứng ngộ trọn vẹn bản tánh nội tại của tánh giác tự hiện hữu của chúng ta là sự xuất hiện nhất thời của những tư tưởng và sự bám chấp. Bởi vì sự xuất hiện này là nhất thời, nó có thể được dọn sạch. Hiểu được điều này là rất quan trọng.
Ảnh nguồn internet


