YUKHOK CHATRALWA CHÖYING RANGTROL - TRÍCH: CÁC ĐẠO SƯ CỦA SỰ THIỀN ĐỊNH VÀ NHỮNG ĐIỀU HUYỀN DIỆU - CUỘC ĐỜI CÁC ĐẠO SƯ PHẬT GIÁO VĨ ĐẠI CỦA ẤN ĐỘ VÀ TÂY TẠNG - Tác giả: TULKU THONDUP

YUKHOK CHATRALWA CHÖYING RANGTROL

TRÍCH: CÁC ĐẠO SƯ CỦA SỰ THIỀN ĐỊNH VÀ NHỮNG ĐIỀU HUYỀN DIỆU

-CUỘC ĐỜI CÁC ĐẠO SƯ PHẬT GIÁO VĨ ĐẠI CỦA ẤN ĐỘ VÀ TÂY TẠNG

Tác giả: TULKU THONDUP

Việt dịch: Thanh Liên – NXB Tôn Giáo 2014

---o0o---

Nếu quý vị cúng dường ngài một tặng phẩm, hầu như chắc chắn là ngài sẽ biểu lộ cơn thịnh nộ, và thậm chí ngài có thể ném quý vị ra ngoài. Nhưng nếu quý vị sửa soạn một cái đĩa tuyệt đẹp và đem nó tới cho ngài, ngài luôn luôn thưởng thức nó với câu nói nổi tiếng: “A-we! Nó đáng giá hàng trăm con ngựa và hàng ngàn con bò [mDzo].”
YUKHOK CHATRALWA CHÖYING RANGTROL - TRÍCH: CÁC ĐẠO SƯ CỦA SỰ THIỀN ĐỊNH VÀ NHỮNG ĐIỀU HUYỀN DIỆU - CUỘC ĐỜI CÁC ĐẠO SƯ PHẬT GIÁO VĨ ĐẠI CỦA ẤN ĐỘ VÀ TÂY TẠNG - Tác giả: TULKU THONDUP

 

YUKHOK CHATRALWA CHÖYING RANGTROL

1872-1952

CHATRALWA Chöying Rangtröl là Vimalamitra đích thực trong thân tướng con người. Ngài sinh năm Thủy Thân thuộc Rabjung thứ mười lăm (1872) trong Thung lũng Yukhok. Thân phụ ngài là Khyishül Tratse, và thân mẫu là Adzi Zawalo.

Tên ngài là Chöying Rangtröl (sự Giải thoát Tự nhiên trong Pháp giới Tối thượng) và ngài được gọi là Yukhok Chatralwa, Ẩn sĩ ở Thung lũng Yukhok. Ngài được coi là một tülku (tái sinh) của Dola Jigme Kalzang.

Năm mười một tuổi, ngài được nhận vào Tu viện Lhatse thuộc dòng Palyül trong Thung lũng Ser Hạ. Nhờ sự thông tuệ thiên phú, việc học tập của ngài tiến bộ nhanh chóng. Ngài nhận nhiều sự trao truyền từ Lhatse Kyabgön

Hôm hôm, khi đang du hành trên một con đường nguy hiểm trong Thung lũng Do Hạ để thu thập lương thực cho việc học tập và thiền định sau này, ngài bị một con báo mẹ và hai con của nó tấn công và chỉ nhờ năng lực của lời cầu nguyện của ngài mà ngài sống sót không bị chúng ăn ngấu nghiến. Trong một thời gian dài sau đó ngài có những ác mộng về những con báo. Một đêm trong một giấc mộng một người đàn bà mang những con báo lại cho ngài và nói “Những con báo này là những xuất hiện của ta, nhưng người đã không nhận ra điều đó.” Sau đó những con báo tan biến vào người đàn bà, và bà cũng tan biến vào một chữ và biến mất. Sau này Kyabgön bảo ngài: “Kinh nghiệm của ông về những con báo là sự giũ sạch những ý niệm và cảm xúc ẩn dấu của ông, nhưng nó kéo dài cho tới bây giờ để ông nhận ra nó. Bây giờ ông đã có thể chiến thắng chúng.” Chatralwa đọc tiểu sử của Milarepa và trong năm ngày ngài kinh nghiệm không có những điểm quy chiếu trong tâm ngài, và từ đó tâm ngài ngơi nghỉ trong sự thanh thản.

Có lần Thầy Lhatse Kyabgön của ngài bị bệnh nặng, và ngài mời một Đạo sư terma đầy năng lực là Rolwe Dorje mà đại chúng gọi là Chagmo Tülku. Nhờ những gia hộ của Chagmo Tülku, vị Thầy của ngài đã khỏi bệnh.

Chatralwa nhận ra rằng Chagmo Tülku sở hữu những giáo lý Đại Viên mãn độc nhất vô nhị. Ngài khẩn cầu Chagmo Tülku ban giáo huấn cho ngài. Thay vào đó, Chagmo Tülku khuyên Chatralwa đi tới vị Thầy của riêng mình là Dodrupchen đệ tam để thỉnh cầu giáo huấn Nhưng Lhatse Kyabgön không cho phép Chatralwa đi. Cuối cùng Chagmo Tülku ban cho ngài những giáo huấn về Đại Viên mãn, kể cả những giáo lý về Yeshe Lama, nói rằng: “Đây là tinh túy những giáo huấn của Dodrupchen.” Với sự tinh tấn lớn lao, Chatralwa đã thiền định về những gì ngài được dạy. Sau một tuần, ngài cảm nhận nhiều kinh nghiệm. Khí nghiệp (hay năng lực) do sự bám chấp chủ thể đối tượng tan biến vào Pháp giới tối thượng, và ngài an trụ trong sự vắng bặt của các tư tưởng. Đó không phải là một sự vô thức hay trạng thái trung tính của tâm. Giống như ánh sáng của một ngọn đèn trong một cái bình, chư Phật và các cõi tịnh độ thường trụ cũng như những âm thanh tối thượng hiện diện tự nhiên như sự chói lọi của giác tánh nội tại (chân tánh của tâm), trí tuệ nguyên sơ.

Nhiều năm sau này, sau khi Lhatse Kyabgön mất, Chatralwa di thăm Düdjom Lingpa (1835-1903) và nhận Nangjang và những giáo lý khác trong nhiều tháng. Theo tiên tri của Düdjom Lingpa, ngài đi thăm Adzom Drukpa (1842-1924), vị Thầy định mệnh của ngài, và nhận những giáo lý bắt đầu từ ngondro cho tới thiền định Trekcho của sự thuần tịnh nguyên thủy và thiền định Thögal của sự quang minh chói lọi, là những giáo lý được Khyentse Wangpo phó chúc cho Adzom Drukpa. Ngài cũng được ban các trao truyền của Nyingthig Yabzhi, Longchen Nyingthig, Chetsün Nyingthig, Gongpa Zangthal, và nhiều giáo lý khác.

Phù hợp với tiên tri của Adzom Drukpa, ngài tới Thung lũng Ser Hạ để truyền bá các giáo lý. Trên đỉnh của một ngọn núi cao, dốc, giống như ốc xà cừ, ngài xây dựng ẩn thất của ngài, là nơi được gọi là Yage Gar, Trại Tuyệt hảo. Nó cách làng Tsi vài dặm, nơi sinh của Dodrupchen Rinpoche đệ tử. Chatralwa ở đó trong phần còn lại của đời ngài, chủ yếu giảng dạy thiền định Đại Viên mãn.

Sau một thời gian, Tertön Sögyal (1856-1926) từ Tu viện Dodrupchen di chuyển tới Thung lũng Ser Thượng, và Chatralwa trải qua một thời gian dài với ngài. Tertön Sögyal dạy ngài Dzökyi Demik, một bình giảng về Guhyagarbha-tantra của Dodrupchen đệ tam vào ban ngày và Ösal Nyingpo, một bình giảng về Guhyagarbha-tantra của Mipham Namgyal vào ban đêm. Ngài cũng dạy Chatralwa nhiều bình giảng khác về Guhyagarbha, và những giáo huấn về Đại Viên mãn.

Mỗi khi Tertön Sögyal trở về từ những cuộc viếng thăm Dodrupchen đệ tam, tertön trao truyền những giáo lý quan trọng mà ngài nhận được hay những sự thảo luận ngài có với Dodrupchen cho Chatralwa. Khi Chatralwa thuật lại cho chúng tôi điều này, tôi nhớ lại lời ngài: “A-wel !Ta không quên chúng. Làm sao ta có thể quên những giáo lý vàng như thế? Ta không phải là kẻ điên.” Lòng sùng mộ của ngài đối với Dodrupchen thật to lớn, nhưng ngài không bao giờ có cơ hội gặp Dodrupchen.”

Năm tôi mười hai tuổi (1951), tôi tới gặp Chatralwa cùng với Thầy Kyala Khenpo của tôi và vài người khác. Tại ẩn thất của ngài có khoảng hai trăm tu sĩ. Phần lớn họ sống trong những túp lều và hang động nhỏ xíu có một chiếc giường vừa làm ghế ngồi, trên đó họ có thể ngủ, ngồi, thiền định, và nghiên cứu. Cạnh giường có chiếc lò nhỏ dùng để nấu trà trong khi ngồi trên giường. Cạnh chiếc gối có một bàn thờ nhỏ với vài quyển sách. Nhiều người hầu như không thể đứng dậy trong phòng nhỏ của họ. Nhiều đệ tử đang thực hành thiền định Đại Viên mãn, và đích thân Chatralwa hướng dẫn họ. Nhưng đa số các đệ tử đang thực hành các bản văn Kinh điển và Mật điển dưới sự hướng dẫn của những đệ tử thâm niên của ngài.

Lần đầu tiên tôi nhìn thấy Chatralwa, ấn tượng mạnh mẽ nhất về ngài mà tôi có là vẻ cổ xưa, không có dấu vết thời gian và tuổi tác của ngài. Một tư tưởng xuất hiện trong tôi: “Ồ! Rigdzin Jigme Lingpa hẳn cũng như thế này.” Ngài đang ngồi trên ghế được bọc vải. Ngài có mái tóc xám, thưa, mọc dài và được bện lại chút ít. Tôi nhớ lại câu nói của ngài: “Thầy Adzom Drukpa của ta nói với ta rằng ta nên sống cuộc đời của một hành giả Mật thừa, và ngài đã tiên đoán rằng ta sẽ trở thành một tertön. Nhưng ta không muốn lập gia đình, bởi điều đó có thể khiến ta phải sống một cuộc đời tranh đấu, mà cũng không muốn khám phá bất kỳ giáo lý terma mới nào, bởi đã có quá nhiều giáo lý terma đích thực quý như vàng có thể dùng được. Vì thế, như một tượng trưng cho việc tuân thủ lời dạy của Thầy ta, ta giữ mái tóc dài này như y phục hành giả Mật thừa.” Mặc dù ngài không bao giờ gặp Dodrupchen đệ tam, một nửa những giáo lý của ngài là những trích dẫn từ những tác phẩm của Dodrupchen mà ngài đã nhận qua Chagmo Tülku và Tertön Sögyal.

Chatralwa có một ngôi nhà khá lớn, tiện nghi, với rất nhiều ánh nắng, tràn ngập các pháp khí và sách tôn giáo. Một hôm một Lạt ma nổi tiếng tên là Rinchen Dargye tới thăm ngài. Sau khi đi vào phòng của Chatralwa, Lạt ma cứ nhìn quanh thay vì ngồi xuống. Chatralwa hỏi ông ta bằng giọng gay gắt: “A-we! Ông mất cái gì thế?” Lạt ma trả lời: “Tôi nghe nói ngài là Chatralwa, một ẩn sĩ. Nhưng trên thực tế thì ngài đã thâu thập đủ để được gọi là một người giàu có.” Chatralwa trả lời: “Chatralwa có nghĩa là một người đã giũ sạch những tham luyến cảm xúc đối với vật chất thế tục hay với cuộc đời. Nó không có nghĩa là nghèo khổ và khao khát vật chất như nhiều người làm.”

Nếu quý vị cúng dường ngài một tặng phẩm, hầu như chắc chắn là ngài sẽ biểu lộ cơn thịnh nộ, và thậm chí ngài có thể ném quý vị ra ngoài. Nhưng nếu quý vị sửa soạn một cái đĩa tuyệt đẹp và đem nó tới cho ngài, ngài luôn luôn thưởng thức nó với câu nói nổi tiếng: “A-we! Nó đáng giá hàng trăm con ngựa và hàng ngàn con bò [mDzo].”

Trong những năm đầu của đời ngài, ngài dạy những bản văn Kinh điển và Mật điển uyên áo cho các đệ tử. Nhưng những năm về sau ngài không dạy bản văn nào nữa. Ngài chỉ ban những lời giảng để làm sáng tỏ những vấn đề khác nhau mà các đệ tử đưa lại cho ngài và đặc biệt là những giáo huấn về thiền định Đại Viên mãn.

Lối giảng dạy thiền định Đại Viên mãn của ngài được gọi là Nyamtri, những giáo huấn phù hợp với kinh nghiệm của hành giả. Ngài sẽ chỉ dẫn riêng từng đệ tử về cách bắt đầu thiền định. Sau đó, ngài ban những giáo lý hay những giảng nghĩa làm sáng tỏ chỉ phù hợp với những kinh nghiệm, vấn đề, hay sự tiến bộ mà các đệ tử đang có. Vì thế ngài ban những gia hộ, bí quyết, và những hỗ trợ, nhưng ngài để cho các đệ tử tự mình thức tỉnh, khai mở, hay tự nhận ra bổn tâm của họ.

Hầu hết các đệ tử của ngài sống trong cảnh đạm bạc, nhưng họ vui vẻ, hài lòng, an tĩnh, và bi mẫn. Nếu quý vị chứng kiến niềm vui trên khuôn mặt, sự yên bình trong giọng nói, vẻ điềm tĩnh trong những hoạt động, và thiện tâm cũng như sự ích lợi cho người khác của họ, quý vị sẽ có cảm tưởng rằng cái được gọi là sự thịnh vượng của cải vật chất không liên quan gì tới niềm vui chân thật của cuộc đời.

Khoảng năm 1940, Chatralwa bị bệnh ho đàm trầm trọng. Không báo trước, Dodrupchen Thupten Thrinle Palzang tới, và sau khoảng một giờ, Chatralwa bắt đầu ăn và sau đó hồi phục, không còn những triệu chứng của căn bệnh hay cần phải dùng thuốc nữa. Chatralwa nài nỉ được rót trà cho Rinpoche và nói: “Tôi buồn vì là một đệ tử cũ của Dodrupchen, vì thế tôi phải phụng sự ngài.” Chatralwa không bao giờ được chính thức thừa nhận hay tôn phong là tülku, nhưng ngài được coi là tülku của Jigme Kalzang. Những lời ngài nói về việc ngài là một đệ tử cũ của Dodrupchen được coi là một thừa nhận ngài là hóa thân của Jigme Kalzang.

Trong những lần gặp gỡ sau này, Chatralwa ban tinh túy của tất cả giáo lý và trao truyền của ngài cho Dodrupchen Rinpoche, như thể rót nước từ cái bình này sang bình khác.

Năm tám mươi mốt tuổi, sức khỏe của Chatralwa suy sụp, và ngài bảo các đệ tử mời Dodrupchen Rinpoche đến, khi đó vị Thầy này đang ở Tu viện Dzogchen. Ngài nói rằng không cần cử hành buổi lễ nào cho tới khi Dodrupchen tới, và khi Dodrupchen tới, họ nên để vị Thầy này làm bất kỳ những gì ngài thích. Như thế, vào ngày hai mươi hai tháng giêng năm Thúy Thìn (1952), Chatralwa Chöying Rangtrol thị tịch vào Pháp giới tối thượng. Vài ngày sau khi ngài mất, Dodrupchen từ Tu viện Dzogchen tới và cử hành tất cả những buổi lễ truyền thống. Nhiều đệ tử của Chatralwa trở về ẩn thất hay tu viện của họ, và một số tới Tu viện Dodrupchen. Ẩn thất Yage Gar hầu như bị giải tán. Tất cả những ngày trọng đại đã trôi qua chỉ trong thời gian ít tháng. Để đánh dấu sự chứng ngộ của ngài, Chatralwa đã viết:

Không thể tách lìa bản tánh của Pháp vương xứ

Oddiyāna [Guru Rinpoche],

Ôi cha ơi, Lạt ma thành tựu, xin an trụ trên đỉnh đầu con.

Các đối tượng có tính chất hiện tượng xuất hiện như năng lực [của trí tuệ), thuần tịnh xa rời những ô nhiễm đột ngột, và,

Bản tánh trùm khắp của tâm là sự hợp nhất của sự thuần tịnh nguyên thủy và sự viên mãn tự nhiên.

Với những hồi ức như thế, mặc dù không có vẻ đẹp của thi ca,

Ta thích hát bài ca chứng ngộ về nền tảng, là sự giải thoát từ lúc ban đầu.

Nhờ chứng ngộ giác tánh nội tại sâu xa, là sự khoáng đạt, và vô ngã,

Những xuất hiện bên ngoài được giải thoát như sự tự

do không có điểm quy chiếu.

Sau khi tịnh hóa giác tánh nội tại và những đối tượng xuất hiện như sự hợp nhất trong nhất thể tánh,

Việc hành giả đạt được thành lũy trong nền tảng tự do tự nguyên thủy sẽ được bảo đảm.

Khi đã vượt lên mọi hy vọng và sợ hãi phân biệt của “là” và “không là,"

Ngủ yên thanh thản, không bận tâm tới mọi hoạt động đạo đức, thì thật hỉ lạc!

Những toan tính về các con đường và giai đoạn, và những phân biệt về những cái thấy và thiền định -

Những vật che phủ như vỏ trứng của tâm hoài nghi bị vỡ nát.

Phẩm tính phi thường của con đường là không dụng công và thành tựu tự nhiên.

Giác tánh nội tại không bị tạo tác của bản tánh là trí tuệ nguyên sơ thành tựu tự nhiên.

Tính bình đẳng của sinh tử và niết bàn trong sự thuần tịnh của quả của chúng là sự thoát khỏi những phân biệt.

Như thế ta đã chứng ngộ bản tánh của Phật nguyên thủy tại nền tảng, và

Giờ đây không cần phải nỗ lực để đạt được Phật quả.

Xin thiền định về Đại Viên mãn. Đó là những đức hạnh phi thường để đạt tới.

Tại núi Sangdzong, gã hành khất tên là Chöying Rangtröl

Đã biểu lộ tự nhiên bài ca hỉ lạc này.

Ảnh nguồn internet

 

Bài viết liên quan