SỰ KHAI TRIỂN CỦA TRÍ BỔN NGUYÊN - NHẬN DIỆN BẢN TÂM - SHAMAR RINPOCHE

SỰ KHAI TRIỂN CỦATRÍ BN NGUYÊN

NHẬN DIỆN BẢN TÂM - SHAMAR RINPOCHE

–––––o0o–––––

Sự lầm lẫn, rối loạn của tâm đã sạch, nó khám phá hiện thể thực sự của nó và bắt đầu hoạt động vận hành với những năng lực của trí bổn nguyên thay vì những năng lực lầm loạn.
SỰ KHAI TRIỂN CỦA TRÍ BỔN NGUYÊN - NHẬN DIỆN BẢN TÂM - SHAMAR RINPOCHE

SỰ KHAI TRIỂN CỦATRÍ BN NGUYÊN

NHẬN DIỆN BẢN TÂM - SHAMAR RINPOCHE

–––––o0o–––––

Sự lầm lẫn, rối loạn của tâm đã sạch, nó khámphá hiện thể thực sự của nó và bắt đầu hoạt động vận hành với những năng lực của trí bổn nguyên thay vì những năng lực lầm loạn.

TRÍ GIỐNG NHƯ TẤM GƯƠNG

(ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ)

Trong bản chất, thức căn bản là Yếu Tố Phật cũng gọi là Phật Tâm hay Phật Tánh, hiện diện trong mỗi chúng sanh. Khi mọi dấu vết dầu nhỏ nhất của sự che ám Phật tánh được xóa bỏ, trí bổn nguyên giống như mặt gương hiển lộ. Tâm trở nên giống như một mặt gương được lau sạch trong đó tất cả mọi sự vật xuất hiện rõ ràng và không chướng ngại trong sự thấu biết của nó.

Điều này khởi lên vào lúc chấm dứt của cấp bậc thứ mười của Bồ tát, sau khoảnh khắc tối hậu của tịnh hóa; rồi Bồ tát chìm mình trong định giống như kim cương, gọi thế vì kim cương có thể hủy hoại bất cứ thứ gì mà chính nó không thể bị hủy hoại. Định giống như kim cương tượng trưng cho đích đến: nó là Phật tánh trên đó không có tiến bộ nào có thể tiếp tục nữa, không có gì thêm để biếthay để được tịnh hóa. Suốt mười cấp độ của Bồ tát, Bồ tát chìm trong thin định, nhưng những định như vậy chưa hoàn toàn thanh tịnh cho đến khi đnh như kim cương được thấu đạt.

Đại viên cảnh trí, trí như mặt gương là toàn giác, nó biết mà không bám nắm. Khả năng biết hiện thời của chúng ta đặt nền tảng trên nhị nguyên. Với chúng ta, nếu có mặt trái, thì có mặt phải; nếu có mặt trước thì tiếp đó phải có mặt sau. Chúng ta bị giới hạn vào trong những ý niệm phần mảnh tương đối như một con chim bị nhốt trong lồng. Định giống như kim cương vượt thắng khuynh hướng này và tâm thoát ra khoảng không vô hạn của trí giống như-mặt gương, nhưng trong một sâu xa hơn rất nhiều so với con chim thoát ra khỏi lồng. Đối với những ai trong chúng ta còn bị giam nhốt bởi bám chấp theo thói quen, sự tự do này thì không thể hiểu nổi dù rất cố gắng. Chỉ khi chúng ta tự kinh nghiệm định giống như kim cương, chúng ta sẽ đạt đến chứng nghiệm tròn đủ sự mở rộng bao la của đại viên cảnh trí, nó là cái vĩ đại nhất, rộng mở hoàn toàn nhất trong tất cả các loại trí bổn nguyên khác nhau. Cởi bỏ khỏi mọi nhị nguyên và chấp ngã, đại viên cảnh trí là Pháp Thân trong hoạt động, đích để đạt đến; nó an trụ không lìa khỏi cảnh giới vận hành của nó, cảnh giới này là một lĩnh vực trống vắng mọi nhiễm ô và ý niệm phần mảnh cấu kết với vô minh lầm lạc.

TRÍ NHẤT NHƯ

(BÌNH ĐẲNG TÁNH TRÍ)

Trước khi sự chuyển hóa của thức căn bản A-lại-da thành trí đại viên cảnh, tâm thức phiền não đã trở thành trí nhất như, một sự chuyển biến đặc biệt kết liền với đệ bát địa Bồ tát (cấp độ thứ tám của Bồ tát).

Phiền não có hai loại: những cái liên hệ đến những tà kiến sai lầm và những cái bẩm sinh, khi sinh ra đã có. Bám chấp vào những kiến giải sai lầm về bản ngã – như tin nó là vĩnh cửu; hay hiểu sai, ngay cả không đồng ý với Tứ Đế: đây là những ví dụ của phiền não liên hệ với tà kiến, chúng có nguồn gốc từ suy luận triết học. Người bình thường có thể không tạo ra những kiến giải cố chấp như vậy, nhưng vì sự vô minh của họ về bản tánh thật A-lại-da, họ sẽ hành động một cách vô thức như là một cái Tôi thực sự hiện hữu, trở thành con mồi cho loại phiền não bẩm sinh (câu sanh phiền não).

Cả hai loại phiền não này có thể bị hủy diệt trong một khoảnh khắc khi Bồ tát đắm mình trong thiền định gọi là sự tiến bộ anh hùng. Nó cũng có thể được gọi là định của quyền lực, vì không có gì có thể đứng vững trên con đường đi của nó. Trong thiền định ấy, mọi bám chấp vào sự chia rẽ, dị biệt được vượt qua, cho phép trí nhất như được hiển lộ, mà nếu không có nó thì luôn luôn có một luyến chấp căn bản vào sự khác biệt có thực hiện hữugiữa ta và người khác: điều này gây ra những phiền não điều động hành vi và dẫn đến sự tái tục vòng sanh tử luân hồi. Cùng loại luyến chấp này tạo ra nhị nguyên: những phân cực như tốt và xấu, sanh tử và giải thoát... Với sự chuyển hóa phần phiền não của tâm thức bởi định sự tiến bộ anh hùng , sự bám chấp vào những sai biệt nhị nguyên sụp đổ trong trí nhất như, đến nỗi sự khác biệt giữa sướng và khổ, hay sanh tử và giải thoát... đều không cảm thấy nữa.

Thật ra, trí nhất như hiện diện ở một mức độ nào đó suốt bảy địa đầu của Bồ tát, nhưng chỉ ở cấp độ thứ tám (Đệ bát địa), khi Bồ tát đắm mình trong thiền định tiến bộ anh hùng, thì trí này mới đến chỗ trưởng thành hoàn mãn.

TRÍ PHÂN BIỆT

(DIỆU QUAN SÁT TRÍ)

Khi tâm lầm lạc, khả năng của tâm khoảnh khắc bị nhiễm ô bởi vô minh, tạo ra cái biết nhị nguyên về đối tượng xuất hiện với các giác quan. Đây là điều kiện cho phép mọi tiến trình tư tưởng phần mảnh (thoát thai từ sự truyền thông của giác quan) được xảy ra. Dưới ảnh hưởng của vô minh, tâm khoảnh khắc thì chật hẹp và bị giới hạn. Qua định như huyễn thuật, Bồ tát chứng biết rằng mọi sự giống như ảo ảnh của nhà huyễn thuật, nghĩa là không còn nữa chút bám chấp manh mún nào vào những sự vật như là thật. Thế rồi khả năng của tâmkhoảnh khắc giải thoát khỏi mọi chướng ngại: tất cả mọi sự có thể được thấy một cách đồng thời, cùng lúc ấy sự sai biệt của mọi đối tượng không bị phá bỏ.

Khắp giáo lý của Phật, những thí dụ như mộng, ảo giác của mắt và như huyễn thuật được dùng để chỉ thẳng bản chất huyễn hóa của kinh nghiệm chúng ta. Ban đầu, chúng chỉ được hiểu bởi lý luận và những tiến trình ý niệm khác, nhưng Bồ tát ở đệ bát và đệ cửu địa thực hiện một chứng ngộ sâu xa hơn về bản tánh thật của huyễn qua khả năng nhận thức như huyễn. Sự chứng ngộ trực tiếp này cho phép Bồ tát giải thoát khỏi những biên giới chật hẹp của khả năng tâm thức khoảnh khắc và vô minh.

Cái biết giới hạn, chật hẹp như vậy (trong khả năng không giác ngộ) có nghĩa là khi chúng ta vươn tay lên nó không đụng trần: hành động của chúng ta bị giới hạn bởi ý tưởng rằng tay chúng ta ngắn và trần nhà thì xa ngoài tầm tay với.

Thoát khỏi những ý tưởng như vậy, không đơn giản chỉ là pháp thuật, cho phép Milarepa đi xuyên qua những bức tường đặc: bức tường là một ảo tưởng, và sự thấu hiểu trọn vẹn của ngài về điều đó nghĩa là nó không đặt ra một cản ngại nào cho sự đi qua của ngài.

Trí phân biệt bổn nguyên bắt đầu xảy ra ở đệ bát địa, nhưng liên hệ chặt chẽ hơn với đệ cửu địa. Tuy nhiên, như với mọi loại trí bổn nguyên khác nhau, chỉ khi định giống như kim cương chuyển hóa thức căn bản lầm lẫn thành trí giống như - tấm gương bổn nguyên, thì trí phân biệt bn nguyên mới tác động hoàn toàn: nó là sự hiểu biết đồng thời mọi sự trong cá biệt tính của chúng, rõ ràng và phân biệt mà không hỗn hợp hay trộn lẫn.

Hai loại trí bổn nguyên đã giải thích trên, trí nhất như và trí phân biệt, cùng làm nên Báo Thân hay là Thân Thọ Hưởng của chư Phật.

Báo Thân là hình tướng của chư Phật biểu lộ trong những cảnh giới thanh tịnh nơi ấy những Bồ tát với tâm thanh tịnh đầy đủ được sinh ra. Các Bồ tát này thì trong sạch hơn loài người, cũng như một con người thì trong sạch hơn một con chó. Sự trong sạch của các ngài cho phép các ngài được lợi lạc từ hoạt động của Báo Thân Phật, nếu không thì không thể đến cảnh giới Báo thân của chư Phật được.

Một khi Bồ tát đã xóa sạch lầm lẫn của phiền não bằng định tiến bộ anh hùng, trí nhất như khởi lên. Trí ấy đem lại một lĩnh vực thoát khỏi lầm lẫn cho sự hoạt động của trí phân biệt, rồi nó có thể lưu xuất ra các cõi giới thanh tịnh ở đó những chúng sanh với sự tích tập các việc lành trong những đời trước có thể được sanh ra. Nơi ấy họ có thể nghegiáo lý Đại thừa, như vậy nhanh chóng tiến bộ đến giác ngộ viên mãn.

Trong thế giới chúng ta tương đối có ít khổ, so với địa ngục hay thế giới loài vật. Là người, chúng ta có khả năng nghe Phật pháp và thực hành nó để đạt đến giác ngộ, điều đó hàm ý rằng chúng ta đã phải tích tập nhiều nghiệp tốt mà bây giờ đã chínđể có sự tái sanh thuận lợi to lớn này. Vì vô minh,hầu hết thời gian của chúng ta được dùng để hoàn thành những nghiệp xấu, chúng sẽ trổ quả trong những tái sanh hoàn toàn vô phước nếu không nhờ hoạt động bi mẫn của chư Phật và Bồ tát, các ngài có thể tạo ra những nhân duyên chân chánh cho sự tiến bộ tâm linh.

Nhờ vào khả năng phiền não và tâm thức khoảnh khắc đã được chuyển hóa của các ngài, giờ đây chúng hoạt động như là trí nhất như và trí phân biệt bổn nguyên, các ngài có thể lưu xuất ra các cõi thanh tịnh, như cõi Cực lạc của Phật A Di Đà, nơi ấy những chúng sanh với tiềm năng chân chánh có thể được sanh ra. Những cõi giới như thế vẫn còn thuộc về thực tại huyễn hóa và tương đối, nhưng cao hơn rất nhiều so với những thế giới bất tịnh của sáu cõi.

TRÍ THÀNH TỰU CÔNG VIỆC

(THÀNH SỞ TÁC TRÍ)

Ngay từ khoảnh khắc đầu tiên mà trí bổn nguyên được nhận thấy, trên Con Đường Thấy (Kiến đạo vị), năm phương diện của thức giác quan bắt đầu chuyển hóa, mặc dù chỉ sau khi đạt đến định giống như kim cương thì khả năng của chúng mới hoàn toàn trưởng thành và chúng trở nên trí bổn nguyên hoàn thành công việc.

Trí bổn nguyên này trong một vị Phật hoàn toàn giác ngộ nghĩa là ngài tự do tạo tác ra những thế giới năm uẩn, xuất hiện trong thế giới như làmột đức Phật lịch sử (như đức Thích Ca Mâu Ni), giáo huấn chúng sanh ở đó và chỉ bày họ cách nào để đạt đến giác ngộ. Đây là hoạt động của Hóa Thân, Thân Xuất Sanh của Phật. Tuy nhiên, ngay trước đó, Bồ tát có thể dùng trí thành tựu công việc đã trưởng thành của ngài để hỗ trợ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho những chúng sanh bất tịnh, ngài hành động một cách tích cực khiến họ có thể tích lũy những xu hướng tốt, chúng sẽ kết quả trong sự tái sanh vào một thế giới vào lúc Hóa Thân xuất hiện.

Chư Phật và chư Bồ tát đã thiện xảo (khéo léo) vô số thiền định thâm sâu, trong đó có thiền quán tình thương. Sức mạnh của một thiền định như vậy có thể tự nhiên phát sanh tâm Từ nơi một con chim hay một côn trùng, gieo một hạt giống về sau sẽ chín cho một tái sanh tốt hơn, ở đó nhiều hành động tốt hơn nữa có thể được tích lũy và tiến bộ có thể làm để đến giác ngộ. Chúng ta có thể nói lòng từ mà con chim nhận thấy là một phẩm tính tự nhiên củachính bản tâm của nó, nhưng phải cần ảnh hưởng n ngoài của thiền định của Phật để kích thích nó hiển lộ và gieo một hạt giống tốt. Theo cách đó, chư Phật và Bồ tát sử dụng thành sở tác trí của các ngài để tạo ra những hoàn cảnh và cơ hội nhờ đó tất cả các loại chúng sanh có thể kinh nghiệm vài khoảnh khắc khi sự che ám được gỡ bỏ và họ có thể tiến vài bước trên con đường.

TRÍ CỦA LÃNH VỰC HIỆN TƯỢNG

Chư Phật còn có một Thân khác, hay một cách hiện hữu khác, gọi là Tự Tánh Thân (Svabhavikakaya), Thân Bản Tánh, gọi thế bởi vì nó là bản tánh căn bản của ba Thân kia và của bốn trí bổn nguyên đã nói ở trên. Liên hệ với Thân này là trí bổn nguyên về không gian sinh động của hiện tượng, nó nghĩa là tánh Không của mọi hoạt dụng của thức phần mảnh phối hợp với trí bổn nguyên. Khi mọi phương diện của sự chuyển hóa hoàn thành, đức Phật toàn giác có Bốn Thân và năm loại trí bổn nguyên thuộc về bốn Thân ấy.

Tóm lại: khi bản tánh thật sự của thức căn bản không được nhận ra, khả năng tâm thức trở nên phiền nhiễu bởi xúc cảm gây ra sự đồng hóa của thức căn bản với một cái ta phân biệt vớicái khác.

Khả năng của tâm khoảnh khắc bị nhiễm ô giải thích theo một cách nhị nguyên thông tin nhận được từ các khả năng của giác quan, làm sanh khởi những tiến trình ý niệm, chúng giả định sự có thật của các đối tượng bên ngoài và bên trong. Những giả định này thống trị hành động, và hành động thành lệ thuộc vào luật nhân quả và chắc chắn tạo ra khổ đau trong hình thức này hoặc khác. Đó là một thế giới đặt nền trên sự lầm lẫn.

Sự nhận ra thức căn bản chính là Phật tánh làm cho khả năng của tâm thức phiền não được chuyển hóa thành trí nhất như bổn nguyên, trong khi khả năng của tâm thức khoảnh khắc trở thành trí phân biệt bổn nguyên và thức phân đoạn của năm giác quan tác động thuần túy như trí thành tựu công việc bổn nguyên. Nhờ định giống như kim cương, thức căn bản chuyển hoàn toàn thành trí như mặt gương bổn nguyên.

V Phật giác ngộ bây giờ chứng nghiệm Pháp thân, và từ nó lưu xuất Báo thân và Hóa thân. Pht có thể hành động tự nhiên vì lợi ích cho tất cả chúng sanh, dầu ở cõi thanh tịnh hay bất tnh,trong khi luôn luôn trụ trong toàn th bản tánh của Ba Thân này, tức là Tự Tánh Thân, nơi đó ngài sử dụng, trí bổn nguyên về không gian sinh động của hiện tượng.

Kinh nghiệm hiện thời của chúng ta thoát thai từ lầm lẫn. Chúng ta có thể nhận ra cho chính chúngta những thành viên khác nhau đó. Thức căn bản là cái tương tục ngay khi chúng ta bất tỉnh hay khi ngủ một giấc ngủ sâu, không mộng. Sự tương tục này cho phép chúng ta nhớ lại ta là ai khi tỉnh lại hay thức giấc, mặc dù trong những trạng thái như vậy bảy loại thức phn mảnh tạm thời ngừng hoạt động. Hoạt động của năm giác quan dễ nhận ra, và với một ít cẩn thận và chú ý chúng ta có thể quan sát thức phần mảnh của khả năng tâm thức và của khả năng tâm thức phiền não đang hiện hành. Khả năng của tâm thức khoảnh khắc thì khó nhìn bắt hơn, nhưng ngay cả cái này cũng có thể khi chúng ta có thể làm tĩnh lặng và an định tâm thức.

Những loại khác nhau của trí bổn nguyên không thể biết được trừ phi chúng ta có kinh nghiệm trực tiếp về chúng. Khi tâm thức còn lầm loạn trong những hoạt động của nó, chúng ta chỉ có thể có một ý niệm mơ hồ, bởi vì chỉ manh mún, do đó là giả dối và lm lạc. Cho đến khi nào những tiến trình tâm thức bắt đầu được tnh hóa, sự hiểu lầm là khả năng duy nhất. Bạn có thể biết ví dụ nổi tiếng trong lời dạy của Phật về những người mù và con voi: không ai trong họ đồng ý với người khác về sự diễn tả chính xác con voi, không ai trong họ đã từng thấy một con voi. Họ chỉ có thể hiểu bằng kinh nghiệm riêng trực tiếp của họ, chúng thay đổi tùy theo phần con voi mà họ sờ. Người gần chân voi thì nói con voi dày và chắc như một thân cây; người nắm tai voi thì diễn tả nó như một tấm chăn mềm; ngườigần vòi thì xác nhận rằng nó dài, thon, và uốn được. Không có ai sai lầm, và cũng không có ai hoàn toàn đúng để được mọi người chấp nhận. Chúng ta thật giống với tình trạng ấy khi nhìn những loại trí bổn nguyên khác nhau. Cho đến khi mắt chúng ta mở ra, khi chúng ta đạt đến Phật quả, ngoài ra chúng ta có thể có một ý niệm, nhưng nó không hoàn toàn đúng.

Công việc của chúng ta là an định tâm thức và thâm nhập vào bản tánh thật của nó, cho phép chúng ta rốt cuộc đắm mình trong những đại định khác nhau, và cùng lúc xóa sạch sự che ám trong kinh nghiệm của chúng ta bằng các hành động tốt, mà hành động hiệu lực nhất là sự phát triển từ bi, những đối trị tốt nhất cho chấp ngã. Cái giúp đỡ cần thiết trong tiến trình tịnh hóa này là nhẫn nhục, kiên trì. Với nó chúng ta có thể du hành từng bước dọc theo các cấp bậc khác nhau của con đường hướng về phía nhận thức lại chính Phật tánh của chúng ta.

Bất kể chùi rửa bao nhiêu, than vẫn luôn luôn đen. Chúng ta thì không như thế: yếu tố căn bản nhất với hiện thể chúng ta là trí bổn nguyên, một tấm gương chỉ phải tẩy chùi bụi bám thì sự trong sạch sáng như pha lê của nó được tái hiện.

–––––o0o–––––

Trích: “Nhận Diện Bản Tâm - Con đường Đại Ấn và Đại Toàn Thiện”.

Tác giả: Shamar Rinpoche.

Người dịch: Trùng Hưng.

Nhà Xuất Bản Thiện Tri Thức – 2006.

Ảnh nguồn: Internet.

Bài viết liên quan