THẦN GIAO CÁCH CẢM TẠI LÂU ĐÀI PRAGUE
Trích: TRÍ TUỆ CỦA SỰ THA THỨ (THE WISDOM OF FORGIVENESS)– ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA THỨ 14 & VICTOR CHAN
Phạm Quốc Anh dịch, NXB. Thế Giới, Công Ty Saigon Books, 2022
--o0o--
Tôi Để Ý Ngay tới một người phụ nữ giữa đám đông. Cô đã kịp len mình lên phía trước, đứng ngay sau sợi dây vải màu đỏ thẫm trong phòng tiệc nhỏ của Lâu đài Prague. Cô có vẻ ngoài ưa nhìn, trạc ba mươi tuổi với mái tóc ngắn vàng óng và một chiếc khăn quàng cổ màu tím. Gương mặt cô lộ rõ vẻ tập trung tối đa.
Khi ấy là tháng Mười năm 2000, Tổng thống Václav Havel đã mời Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng nhiều trí tuệ vĩ đại khác tới Prague để tham dự một hội nghị về giáo dục và các giá trị tâm linh. Nhằm đáp lại vô số lời mời phỏng vấn, nhà lãnh đạo Tây Tạng đã tổ chức một buổi họp báo. Ông vừa trả lời xong một câu hỏi của nhà báo người Đài Loan. Có một tá những câu hỏi tương tự như vậy và họ đều muốn biết suy nghĩ của ông về Trung Quốc và Đài Loan.
Người phụ nữ có mái tóc vàng óng cầm lấy chiếc micro. Cô ngả người về phía trước, đối diện là hai chiếc máy quay lớn đung đưa trước mặt.
“Chúng ta hiện đang sống trong thời đại số, và Ngài là người thông hiểu nhiều phương pháp thiền khác nhau. Hẳn Ngài rất quen thuộc với phương pháp ‘thần giao cách cảm…”
“Thần giao?” Đức Đạt Lai Lạt Ma có vẻ bối rối vì không " hiểu từ đó là gì.
“Thần giao cách cảm.” Cô lặp lại.
“Thần giao cách cảm.” Cuối cùng thì ông cũng hiểu.
“Phải rồi... Nghĩa là truyền dòng suy nghĩ của mình tới một người khác phải không?”, cô nhìn thẳng vào Đức Đạt Lai Lạt Ma với vẻ mặt nghiêm nghị. Qua giọng nói, tôi đoán chừng cô là người Séc hoặc Đức.
“Tôi á?” Ngài lớn giọng hỏi lại, âm giọng trầm vang vọng khắp khán phòng rộng lớn. Hơn chín mươi nhà báo cùng người quay phim cười rộ lên. “Không, không hề”, Ngài nói một cách dứt khoát. “Tôi không có quyền năng ấy. Nhưng tôi hy vọng là tôi có. Bởi lẽ, trước khi cô đặt câu hỏi... nếu tôi biết trước nó là gì, nó đã không làm khó tôi đến thế”. Không kìm được, Ngài ngả người cười một tràng dài sảng khoái, gương mặt lộ rõ vẻ vui thích. Một phóng viên người Séc lấy tay lau nước mắt sau tràng cười. Tất cả mọi người bắt đầu cảm thấy không khí buổi họp báo trở nên thoải mái hơn.
Người phụ nữ cúi mặt trong thoáng chốc. Rõ là cô cảm thấy thất vọng với câu trả lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhưng cô quyết không để sự bối rối ấy làm mất tập trung. Cô gặng hỏi tiếp: “Ý tôi là, liệu Ngài có thường xuyên sử dụng thư điện tử hay vẫn sẽ dùng thần giao cách cảm?”. Người phụ nữ này rõ ràng tin rằng thần giao cách cảm là một trong những trong kỹ năng bí truyền của Đạt Lai Lạt Ma.
Đức Đạt Lai Lạt Ma quay về phía thư ký riêng của mình là Tenzin Geyche Tethong nhờ trợ giúp. Hai người nói ngắn gọn bằng tiếng Tây Tạng. Gương mặt nữ phóng viên chuyển màu ửng hồng trong khi chờ đợi.
“Mặc dù bản thân Ngài không dùng thư điện tử, tất cả các văn phòng tại Tây Tạng đều đã được kết nối mang Internet", thư ký Tenzin Geyche giải thích bằng giọng nhỏ nhẹ.
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói thêm gì đó bằng tiếng Tây Tạng.
Tenzin Geyche tiếp lời: “Ngài không quen sử dụng máy vi tính vì không biết phải bấm vào đâu”, rồi ông tự cho phép mình mỉm cười dù trong những tình huống xuất hiện trước công chúng, ông thường giữ cho mình không bộc lộ cảm xúc.
Đạt Lai Lạt Ma giải thích: “Mấy ngón tay của tôi...”, Ngài đưa bàn tay lên gần khuôn mặt và nhìn chằm chằm vào những ngón tay to bè, “tôi nghĩ là chúng khá tốt để dùng tua-vít”. Rồi ông tạo dáng bàn tay phải trông như công cụ của người thợ mộc. Những chiếc máy ảnh đồng loạt bấm nút chụp liên tục.
“Sửa chỗ này chỗ kia một chút..”, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục chăm chú nhìn vào những ngón tay đang xoay tròn của mình. “Vậy là hết sức có thể rồi. Nhưng còn máy vi tính thì…”, Ngài vụng về gõ lên mặt bàn vài cái bằng ngón trỏ của mình, “...vô vọng”.
Khi buổi họp báo kết thúc, đám đông phóng viên vậy lấy Đức Đạt Lai Lạt Ma để bắt tay Ngài. Trong số đó có nữ phóng viên người châu Âu kia. Ngài tiến lại gần cô, đưa mặt mình gần sát lại khuôn mặt cô, và dùng một ngón tay gõ vào trán cô. Cô thét lên. Bàn tay phải của cô giật bắn lên và nắm lấy tay Ngài. Cả hai người họ phá lên cười mà không ngừng lại được.
Đức Đạt Lai Lạt Ma Ngày Nay đã trở thành một biểu tượng toàn cầu. Việc Ngài ở vị thế là người đứng đầu của dân Tây Tạng hay là hiện thân nổi bật nhất của Phật giáo cũng không quan trọng bằng tính chất biểu tượng này. Ở các nước phương Tây, hình ảnh của Ngài trong con mắt công chúng là sự pha trộn giữa một nhà tu khổ hạnh mẫu mực và một chú gấu trúc tinh nghịch dễ thương. Buổi thuyết giảng kéo dài 4 ngày của Ngài được tổ chức tại Nhà hát Beacon, New York, vào năm 2003 đã bán hết toàn bộ vé. Tấm bảng quảng cáo nổi bật treo ngay trên cổng vào ghi lớn dòng chữ: “Diễn giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma. Các sự kiện tiếp theo: Nhóm nhạc Twisted Sister và Nhóm nhạc Hot Tuna”.
Sau bài thuyết giảng ấy, Đức Đạt Lai Lạt Ma lại tham gia vào một buổi nói chuyện tại Công viên Central Park. Dưới bầu trời trong vắt, thảm cỏ East Meadow được phủ kín bởi đám đông những người hâm mộ trung thành, những kẻ tìm kiếm sự khai sáng tâm linh, và cả những người tìm tới chỉ đơn giản do sự tò mò. Một sân khấu khổng lồ cùng hai màn hình điện tử Videotrons cực lớn được dựng lên để phục vụ cho buổi nói chuyện. Nếu chẳng may không tìm được chỗ ngồi trên bãi cỏ xanh mát, người ta phải theo dõi sự kiện bằng ống nhòm, nhìn xuyên qua những tán lá rậm rạp của những hàng cây. Tổng cộng có khoảng 100.000 người tham dự sự kiện đặc biệt này. Từ trước tới nay chỉ có mục sư Billy Graham và Đức Giáo Hoàng mới thu hút được một đám đông lớn như thế này.
Sắc diện của Đức Đạt Lai Lạt Ma hôm ấy khá tốt. Đứng phía sau Ngài vài bước chân, tôi có thể nhận ra đám đông khiến Ngài thêm phấn chấn. Như thường lệ, Ngài thể hiện sự khiêm nhường cùng khiếu hài hước nhẹ nhàng và nụ cười chân thật. Không dùng giấy ghi chú, Ngài mở đầu câu chuyện với khán giả phía dưới, “Một số người khi tới đây mang theo những kỳ vọng nhất định với Đạt Lai Lạt Ma. Họ nghĩ chắc hẳn người nhận giải Nobel Hòa Bình sẽ phải có gì đó thú vị hay đặc biệt để nói. Chẳng có gì đâu! Tôi không có những thứ ấy đâu, chỉ có những câu chuyện nho nhỏ blah, blah, blah thôi”.
Nhưng rồi Ngài nhắc lại một chủ đề ưa thích: “Chúng ta phải nỗ lực hết sức để lan tỏa tình yêu thương giữa người với người. Cùng lúc với việc phản đối bạo lực hay chiến tranh, chúng ta phải thể hiện được rằng còn một con đường khác nữa - con đường bất bạo động. Giờ hãy coi nhân loại như một thể thống nhất. Thực tế hiện nay cho thấy: toàn bộ thể giới gần giống như một cơ thể. Khi có gì đó xảy ra ở một vùng xa xôi, phản ứng của nó sẽ lan tới nơi bạn ở. Việc hủy hoại một nước láng giềng mà bạn coi là kẻ thù cũng cầm chắc như hủy hoại chính quốc gia của bạn. Tương lai của chúng ta phụ thuộc vào sự bình an toàn cầu”.
Chỉ trong vài phút ngắn ngủi, Ngài đã hoàn toàn thu hút được sự tập trung của đám đông.
Một nhiếp ảnh gia người Tây Tạng, hẳn là vô cùng ấn tượng với Đức Đạt Lai Lạt Ma, đã thì thầm vào tai tôi: “Ngài không cần đọc từ máy nhắc chữ. Ngài chính là nhân chứng sống cho trí tuệ của mình – một lối tư duy thiết yếu với tình hình thế giới ngày nay”.
Tôi Thấy Tò Mò liệu Đức Đạt Lai Lạt Ma có khi nào tự hỏi vì sao Ngài có sức hút với mọi người đến thế. Trong một buổi phỏng vấn, tôi nói, “Con muốn hỏi Ngài một câu hỏi ngớ ngẩn”. Nhà lãnh đạo Tây Tạng, như thường lệ, đang ngồi xếp bằng trên chiếc ghế bành trong khán phòng nơi tịnh thất tại Dharamsala, Ấn Độ. “Tại sao Ngài lại nổi tiếng như vậy? Điều gì khiến Ngài trở nên quá sức cuốn hút với nhiều người đến thế?”.
Đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi lặng yên, suy ngẫm về câu hỏi ấy. Ngài không gạt nó đi bằng một lời bông đùa như tôi nghĩ Ngài sẽ làm.
Ngài đáp lại bằng giọng khiêm nhường: “Tôi không nghĩ bản thân mình có đức tính gì quá đặc biệt. Ồ, có lẽ chỉ là những điều tốt nhỏ bé thôi. Tôi giữ cho tâm trí mình luôn tích cực. Tất nhiên cũng có đôi khi tôi cảm thấy khó chịu. Nhưng trong trái tim mình, tôi không bao giờ đổ lỗi hay nghĩ xấu cho bất cứ ai. Tôi cũng luôn cố gắng nghĩ đến chúng sinh nhiều hơn. Tôi tin rằng họ có tầm quan trọng hơn mình. Có lẽ mọi người yêu mến tôi vì tấm lòng của tôi”.
“Tôi nghĩ rằng ban đầu họ tìm đến tôi vì thấy tò mò. Rồi có lẽ... thường khi tôi gặp ai đó lần đầu tiên, tôi không coi họ là người lạ. Tôi luôn có cảm nhận rằng: đó là một con người. Không có gì khác biệt. Và tôi cũng vậy.”
Ngài lấy tay xoa vào hai bên má rồi nói tiếp: “Dưới lớp da này là cùng một bản tính, cùng những ước mong và cảm xúc. Thường thì tôi cố gắng trao đi cảm giác hạnh phúc tới người đối diện. Rồi thì nhiều người cùng nói những điều tích cực về tôi. Những người khác khi nghe thấy danh tiếng ấy cũng lại kéo đến thêm – điều đó cũng có thể xảy ra”.
Đức Đạt Lai Lạt Ma sử dụng tiếng Anh theo một cách rất riêng mà không ai có thể bắt chước được. Ban đầu, tôi gặp khó khăn trong việc diễn giải những gì Ngài nói khi bắt tay vào xây dựng nội dung của cuốn sách này. Có đôi khi Ngài nói khó hiểu như đang sử dụng mật ngữ. Dần dà, khi đã quen hơn với phong thái của Ngài, tôi lại bị mê hoặc bởi cách nói chuyện đầy duyên dáng và bộc trực ấy.
“Có đôi lúc khi người ta tìm đến Ngài, họ cảm thấy bị xúc động khi nhìn thấy Ngài chứ chưa cần nghe Ngài nói”. Tôi hỏi, “Tại sao lại như vậy?”.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp: “Ta để ý thấy, mỗi khi một ca sĩ hay diễn viên xuất hiện, mọi người đều nhảy nhót và la hét. Trường hợp này cũng vậy”. Ngài làm ra vẻ nhấp nhổm trên ghế và giơ tay lên vẫy vẫy trong không trung.
“Vậy là Ngài giống như một ngôi sao nhạc rock vậy”, tôi nói.
“Phải”, Ngài đáp. “Nhưng còn nhiều nhân tố khác nữa. Chúng ta tin vào tiền kiếp. Có thể tồn tại một mối nhân duyên nào đó, hoặc có gì đó kỳ bí hơn”. Ngài nhíu mày rồi hướng mắt nhìn xa xăm, khiến tôi có cảm giác Ngài đang cố tìm hiểu tầng ý nghĩa sâu xa hơn về sức cuốn hút của mình.
Ngài nới lớp khăn choàng bên ngoài và cuốn gọn lại quanh thân mình.
Cuối cùng Ngài mở lời: “Nào, về tầng ý nghĩa bí ẩn này. Ví dụ như khi một ai đó mơ một giấc mơ kỳ lạ, thì giấc mơ ấy mở ra một tương lai hay một cuộc sống hoặc một mối tương giao mới với những người khác”.
Ngài chỉ vào tôi khi tiếp tục dòng suy nghĩ của mình. “Trường hợp của anh cũng vậy. Bằng một biến cố không ngờ, anh được đưa tới đây. Vụ bắt cóc ở Afghanistan ấy. Nếu nó không xảy ra, có thể anh đã không ở đây lúc này. Như vậy anh cũng không tạo được những mối tương giao với tôi và những người dân Tây Tạng. Tôi chắc rằng phải có nhân duyên nhất định để việc này xảy ra. Phật giáo có dạy rằng: Có những mối duyên kéo dài từ nhiều kiếp trước. Bởi lẽ ấy, có thể đó là lý do vì sao nhiều người cảm thấy gần gũi với tôi”.
Phải rồi, “vụ bắt cóc ở Afghanistan”. Vào năm 1971, khi mới học xong cao đẳng, tôi mua một chiếc xe cắm trại hiệu Volkswagen tại Utrecht và lên kế hoạch đi đường dài từ Hà Lan tới Ấn Độ, Sau khi đi qua Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, tôi dừng chân khoảng nửa năm tại Afghanistan – nơi trú ẩn lý tưởng cho những kẻ bỏ trốn và đám học-đòi-phiêu-lưu.
Thời gian lưu trú ngắn ngủi ấy gần kết thúc cũng là lúc tôi cùng hai cô gái trẻ khác – Cheryl đến từ New York và Rita từ Munich – bị ba người đàn ông Afghanistan bắt cóc tại Kabul. Với một khẩu súng trường, họ ép chúng tôi lên một chiếc xe tồi tàn và đưa chúng tôi đến một ngôi làng nhỏ trên dãy núi Hindu Kush. Sau vài ngày bị giam giữ, chúng tôi trốn thoát được khi chiếc xe của họ trật bánh lúc đi qua một góc cua hẹp và đâm vào sườn núi.
Không lâu sau, tôi và Cheryl quyết định cùng nhau đi tới Ấn Độ. Cô mang theo một bức thư giới thiệu tới Đức Đạt Lai Lạt Ma, người đang sống lưu vong tại Dharamsala. Chúng tôi đi thẳng tới vùng đất định cư đẹp như tranh vẽ của người dân Tây Tạng. Vài ngày sau khi tới nơi, chúng tôi được diện kiến Ngài. Lần đầu tiên tôi được gặp nhà lãnh đạo tâm linh cũng là người đứng đầu của nhân dân Tây Tạng là trong tiết trời xuân se lạnh và tịch mịch của tháng Ba năm 1972.
Định mệnh. Nhân duyên. Phải, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói đúng, dù có là gì đi nữa, nếu như ngày ấy không bị bắt cóc, tôi chắc hẳn đã không được gặp Ngài. Nói gì đến cùng nhau chấp bút một cuốn sách và được ngồi đây hỏi về sự lôi cuốn kỳ bí của Ngài.
Vẫn nghiền ngẫm câu hỏi của tôi về nét tính cách đặc biệt nổi bật của mình, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp lời, “Cũng có nhiều người thích tiếng cười của tôi. Nhưng là tiếng cười như thế nào, cách cười ra làm sao, thì tôi không rõ”.
“Rất nhiều người đã nhận xét về tiếng cười của Ngài”, tôi nói, “và về khiếu hài hước của Ngài nữa. Ngài gần bảy mươi tuổi rồi", nhưng vẫn rất thích đùa giỡn và chẳng mấy khi để ý đến vị thế của mình.”
Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp, “Thứ nhất, người Tây Tạng nhìn chung đều vui tính. Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng họ luôn sẵn sàng tươi cười, đại khái là như vậy. Trong gia đình tôi, chỉ trừ Gyalo Thondup (người anh thứ hai), còn lại đều như vậy. Người anh lớn (Thubten Jigme) Norbu lúc nào cũng bày trò, kể chuyện cười. Người anh kế tôi, Lobsang Samten quá cố, thật sự vui nhộn, luôn kể mấy câu chuyện bậy bạ. Rồi tới tôi. Sau đó là cậu em út, Tenzin Choegyal, và em gái Jetsun Pema lẫn người chị lớn đã qua đời, không một ai nghiêm nghị quá mức cả. Mẹ tôi cũng vậy. Cha tôi – dù có hơi nóng tính – cũng rất xuề xòa”.
“Với chính tôi, tâm của tôi lúc nào cũng bình yên. Dù biến cố xảy ra hay khi đón nhận những tin thật bi thương, tâm trí tôi không bị lay động nhiều. Có đôi chút buồn đau trong thoáng chốc, nhưng chúng đều qua nhanh. Chỉ vài phút hoặc vài giờ, chúng đã không còn nữa. Bởi vậy tôi coi tâm trí mình như đại dương. Bề mặt là từng cơn sóng cuộn, nhưng bên dưới luôn an tĩnh.”
Những người đã tiếp xúc với Đức Đạt Lai Lạt Ma đều có cảm giác Ngài hết sức “chân thành”, theo lời Đức Tổng Giám Mục Desmond Tutu từng nói với tôi. Họ được Đức Lạt Ma lay động mà không rõ lý do vì sao, bị cuốn hút bởi nhân cách quá đỗi đặc biệt của Ngài, ngay cả khi không được diện kiến Ngài.
Sự hiện diện đầy sinh lực của Đức Đạt Lai Lạt Ma chắc hẳn phải có mối liên hệ tới sự uyên bác về tâm linh của Ngài. Sự nồng hậu tràn đầy trong Ngài chỉ đơn thuần được sinh ra từ sự giác ngộ tâm linh.
Tôi quen biết Đức Đạt Lai Lạt Ma tới nay đã hơn ba thập kỷ. Ngài gọi tôi là “anh bạn nối khố”. Trong vài năm gần đây, với vai trò là đồng tác giả cuốn sách với Ngài, tôi được tiếp cận Ngài theo cách chưa từng có tiền lệ trước đây. Tôi được quan sát Ngài ở cự ly gần, tham gia vào đoàn tháp tùng trong mỗi chuyến công du của Ngài, và được dành thời gian làm việc trong chính ngôi nhà của Ngài. Ấy vậy mà thật khó để miêu tả, huống chi là định nghĩa chính xác, sức lôi cuốn kỳ diệu của Ngài. Để hiểu được bản chất con người Ngài, chúng ta phải phân tích quãng thời gian một nửa thế kỷ Ngài dành ra để nghiên cứu Phật giáo cũng như góc nhìn độc đáo khi Ngài đặt mình trong mối quan hệ với thế giới xung quanh.
Cách Ngài nhìn nhận nhân tình thế thái được nhen nhóm từ những hiểu biết căn bản nhưng rất khó nắm bắt. Có vài lần Ngài giảng tôi nghe về Tương Thuộc và Tánh Không, hai ý niệm có ý nghĩa vô cùng quan trọng tới Ngài. Tôi chăm chú lắng nghe và cẩn trọng ghi chép lại. Thú thực là phải chật vật lắm tôi mới hiểu được ý nghĩa của chúng. Nhưng nhờ được đi theo Ngài như hình với bóng, được ở gần Ngài hết ngày này qua ngày khác, tôi dần xác định được một số đức tính làm nên con người của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nguyên tắc về yêu thương và đấu tranh bất bạo động chính là hai yếu tố định hình nên tầm nhìn toàn cầu của Ngài. Và sự kiên trì sử dụng lòng từ bi làm giải pháp cho mọi bất đồng cũng tác động lên cách hành xử của Ngài.
Có một điều mà tôi biết chắc chắn, là tôi cảm thấy vui tươi hơn khi ở bên cạnh Đức Đạt Lai Lạt Ma. Những người khác cũng vậy. Phải chăng chúng ta ngầm hiểu rằng Ngài là người nói sao làm vậy. Chúng ta cảm nhận được sự thuần khiết đặc biệt trong Ngài. Giống như một chiếc gương phản chiếu, nó cho phép chúng ta nhìn thấy và chạm vào bản tâm của chính mình.
Đức Tổng Giám Mục Desmond Tutu đã phát biểu thế này về Đức Đạt Lai Lạt Ma khi họ cùng đứng trên sân khấu tại Vancouver, Canada trước 14.000 người:
“Cách đây vài năm, tôi được một người phụ nữ chạy lại chào hỏi rất vồn vã tại San Francisco. Cô ấy nói “Xin chào Đức Tổng Giám Mục Mandela!”. Quả là một mũi tên bắn trúng hai đích.
Tôi có thể chắc rằng không ai lại nhận nhầm Đức Đạt Lai Lạt Ma như vậy.
Thật là một sự lạ khi ở thời đại mà sự thành công được tôn thờ, chúng ta lại không đem lòng ngưỡng mộ những cá nhân đạt được thành công rực rỡ hay những người có phong thái cứng rắn, kiều hãnh. Có thể chúng ta thầm ghen tỵ với tài sản kếch xù của họ, nhưng chưa đủ để ngưỡng mộ họ.
Vậy thì ai mới là những người được ta ngưỡng mộ? Ta có thể dành rất nhiều lời ngợi khen cho Mẹ Teresa, nhưng “kiêu hãnh” không nằm trong số đó. Chúng ta tôn kính Mẹ vì tình thương vô bờ Mẹ dành cho những phận người khốn khó. Chúng ta cảm phục vì tấm lòng tử tế của Mẹ. Sự cảm phục ấy cũng dành cho những con người như Nelson Mandela, người đã trở thành biểu tượng cho tinh thần cao thượng, lòng từ bi và sự hòa giải.
Và chúng ta tôn kính Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài là một trong số rất, rất ít bậc hiền nhân có khả năng thu hút những người mộ đạo thành kính tới tham dự sự kiện đông tới mức đứng chật kín Công viên Central Park tại New York.
Nhưng tại sao? Tại sao lại như vậy? Bởi Ngài có thiện tâm. Thiện tâm. Có rất ít người được thánh thiện như Đức Lạt Ma đây. Những người có được tâm bình yên như Ngài quả thực rất đỗi hiếm hoi.
Và khiếu hài hước của Ngài cũng vậy. Ngài dễ cười, như thể một cậu học trò tinh nghịch vậy. Trong Ngài luôn có một niềm vui tươi chực trào.
Thật lạ kỳ làm sao khi con người ấy đã sống trong cảnh lưu vong suốt 45 năm nay. Lẽ ra Ngài ấy phải luôn cảm thấy căm phẫn, thù hận và cay đắng chứ. Cớ sao Ngài lại muốn lan tỏa lòng từ bi và tình thương yêu tới những kẻ đã đối xử tối tệ với Ngài và người dân của Ngài như vậy. Nhưng quả thực Ngài mong muốn điều đó. Một cách chân thành.
Chúng ta có thấy tự hào không khi là con người? Đức Đạt Lai Lạt Ma khiến chúng ta cảm thấy thật tuyệt vời vì chúng ta là con người. Vì chúng ta được sống trong cùng một thời đại với những bậc thánh nhân như Ngài.
Ảnh nguồn internet


